7 đời gắn bó với nghiệp ca trù
Dòng họ nghệ nhân Nguyễn Văn Mùi có nhiều người làm ca nương, đàn kép nổi tiếng trong cung đình. Hệ thống ca trù của dòng tộc được khởi nguồn từ đời cụ Nguyễn Đức ý làm quan tri huyện ở Hải Dương, chuyên làm âm nhạc đã truyền dạy cho con cháu trong dòng họ. Bà cô tổ Nguyễn Thị Tuyết là người từng được giao trọng trách quản lý hệ thống ca vũ trong cung đình thời vua Thành Thái và đã được tạc tượng bằng vàng. Nửa thế kỷ trước, ông thân sinh ra nghệ nhân Nguyễn Văn Mùi là cụ Nguyễn Văn Xuân từng là "nghệ nhân vô địch đàn đáy đất Bắc Hà".
Theo gia phả thì đã có 7 đời dòng họ Nguyễn này gắn bó với nghiệp ca trù. Trong gia đình, ông Mùi cầm trống, anh Văn Khuê (con trai ông Mùi) chơi đàn đáy, còn hai cháu nội của ông là Oanh và Thảo cầm phách gõ nhịp, luyến láy những bài hát ca trù. ông Mùi kể: Phải truyền lửa cho các con cháu hiểu được vẻ đẹp và giá trị của loại âm nhạc này. Dù lịch sử có lúc thăng lúc trầm cũng không thể để mất nó, để mất nó là có tội với tổ tiên.
Vừa cho chúng tôi xem những nhạc cụ cổ mà gia đình còn lưu giữ được đến nay, ông Mùi say sưa kể: "Trước kia ngôi đình Ca Công ở ấp Thái Hà được coi là "nhà hát riêng" của dòng họ Nguyễn chúng tôi. Những nghệ nhân ca trù của dòng họ chỉ chuyên hát cho các quan từ Tổng Đốc trở lên..." Trải qua cuộc "bể dâu" của lịch sử, một thời gian dài ca trù phải chịu cảnh "im hơi lặng tiếng". Ngôi đình Ca Công năm xưa cũng không còn nguyên vẹn, nhưng gia đình ông cũng như nhiều "đào kép" khác vẫn âm thầm giữ nghề Tổ.
Phải đến tận năm 1987, gia đình ông Mùi mới thành lập CLB ca trù mang tên Thái Hà để tưởng nhớ "nhà hát" xưa kia của dòng họ. Hàng ngày, tại ngôi nhà nhỏ ở phố Thuỵ Khuê vẫn vang lên nhịp phách và giọng hát tha thiết của cô út Thuý Hoà, quyện cùng ngón đàn đáy điêu luyện của người anh cả Văn Khuê, nhập vào tiếng "chát tom" của người cha Nguyễn Văn Mùi. Nghệ sĩ Nguyễn Thuý Hoà tâm sự: "Hát ca trù rất khó bởi người hát phải sử dụng phách, kết hợp giọng hát và giọng phách. Kỹ thuật hát rất quan trọng, nảy hát là kỹ thuật đặc trưng, cách luyến láy thì âm ư là khó nhất, khẩu hình đóng, mở đúng để giọng vang xa, thể hiện đúng lời thơ, nội dung bài hát".
Trong thời gian dài giữ gìn và phát huy nghệ thuật ca trù - "nghề Tổ" của dòng họ, gia đình nghệ nhân Nguyễn Văn Mùi còn giữ được gần 40 làn điệu (kể cả ca vũ) trong tổng số 146 làn điệu ca trù. Ngày nay, CLB Thái Hà không chỉ nổi danh trong nước mà còn vang xa ra nhiều nước trên thế giới. Hơn 10 năm qua, năm nào gia đình ông cũng được mời sang biểu diễn ở các nước Anh, Pháp, Thụy Sỹ...Chương trình nghệ thuật ca trù của gia đình ông luôn nhận được sự tán thưởng ở mọi nơi và dược truyền hình trực tiếp trên kênh BBC (Anh) và AFP (Pháp).
"Ươm mầm" tài năng
PGS-TS Vũ Nhật Thăng khẳng định: "Ca trù là một bộ môn nghệ thuật tổng hợp bao gồm nhạc, thơ, hát và trò diễn. Bộ môn này đòi hỏi đào, kép phải trau chuốt giọng hát, tiếng đàn, kỹ thuật gõ phách thật điêu luyện". Ca trù có nhiều luật lệ nghiêm ngặt. Chưa kể về thanh, sắc, đạo đức, về phép tắc và phương tiện để được phép hành nghề mà chỉ riêng về âm với Nhạc thôi cũng đã thấy nhiều quy định khắt khe: Hát có 5 giọng, đàn có 5 cung, phách có 5 khổ, điểm trù có 5 phép. Đó mới chỉ là những điều cơ bản. Vì thế mà để đạt được một cái "chất", đến đỉnh cao như nghệ nhân Quách Thị Hồ là cả một vấn đề. Cũng chính vì sự khó của nghệ thuật ca trù mà các con, cháu của nghệ nhân Nguyễn Văn Mùi vẫn đang bám đuổi để môn nghệ thuật này không bị lụi tàn với thời gian.
Có lúc, cụ Nguyễn Văn Mùi cũng không tin vào sự tồn tại lâu dài của thứ nghệ thuật tinh tế này. Cụ cho các con trai đi học đàn đáy ở nhạc viện, dạy con gái Thúy Hòa các điệu hát cũng chỉ mong sau này vào ngày giỗ của mình, con cháu tề tựu trước ban thờ mà biểu diễn trước vong linh tiên tổ, coi như một nghĩa cử gìn giữ nghiệp cha ông. Vậy là ngày ngày, cụ Mùi và các con cháu lại cùng nhau tập hát.
 |
|
Ca trù là niềm đam mê của Kiều Anh |
Anh Khuê kể lại: Ngày trước khi còn nhỏ, tôi và cô út Hoà nằm ngủ cũng được nghe các cô, các chú trong gia đình hát ca trù, lâu dần cũng "ngấm" vào đầu, tích luỹ vốn cổ. Phải thừa nhận rằng, nghệ thuật nào cũng phải tập luyện nhưng riêng bộ môn ca trù đặc biệt hơn. Hát đòi hỏi sự kết hợp giưa tay phách và giọng hát của đào nương. Tay hát luôn phải đánh phức điệu với giọng hát. Một người phải làm ha nhiệm vụ, vừa đánh phức điệu vừa thể hiện lời thơ. Điểm khó nhất của ca trù là các cung bậc trong ca trù, các nốt luyến, đổ con kiến, nảy hạt trong ca trù vô cùng phức tạp và khó. Vì thế ngày xưa các cụ thường truyền lại cho con cháu trong dòng tộc - những người mà nằm ngủ cũng được nghe tiếng hát ấy - bởi ca trù không thể truyền một cách trực tiếp mà cần phải có thời gian, phải được nghe mới có thể học, làm được điều đó. Nó là chất keo kết nối các thế hệ với nghề Tổ.
Nghệ sĩ Thúy Hòa vốn là học trò cưng của NSND Quách Thị Hồ. Giọng hát của Hòa đã bay xa không chỉ trên khắp các vùng miền Việt Nam mà còn đến với nhiều nước trên thế giới. Cô là một trong số hiếm hoi những nghệ sĩ hát ca trù của hôm nay mang được tất cả những hồn cốt, khúc thức của loại hình nghệ thuật độc đáo, bác học bậc nhất trong các loại hình nghệ thuật truyền thống Việt Nam. Tôi đã nhiều lần nghe Thu Hòa hát tại các buổi biểu diễn và thường thấy phía sau chị là hai cô cháu gái cùng hòa nhịp trống phách. Thì ra, đó là cách mà người cô muốn truyền nghề cho các cháu trong họ tộc, muốn các cháu của mình dần dần làm quen, tiếp cận với khán giả. Những người hiểu biết về nghệ thuật truyền thống thừa nhận rằng Thúy Hòa đã tiếp cận đến những chuẩn mực của kỹ thuật hát ca trù mà cha ông để lại. Cô là một đại diện xứng đáng cho những nghệ sĩ đã dày công theo đuổi, khổ luyện với nghề.
Dường như những âm thanh lách cách của tiếng phách và những câu hát ngân nga hoà quyện với tiếng đàn đáy du dương cũng "ngấm" cả vào hai cô cháu nội của nghệ nhân Mùi. Khi mới 6 tuổi, Kiều Anh và Thu Thảo đã bắt đầu gõ những nhịp phách đầu tiên, hát một cách say sưa những câu ca trù cổ. Điều đó đã khiến ông Mùi rất xúc động. Hàng ngày, ông Mùi vẫn thường dạy những kỹ thuật cơ bản của nghề hát cũng như kể lại những câu chuyện về truyền thống của gia đình để các cháu có thêm "lửa" và yêu ca trù hơn. Cho đến nay, hai chị em Kiều Anh và Thu Thảo đã học và biểu diễn được nhiều làn điệu ca trù cổ như hát ru, hát giai, xẩm huê tình, gửi thư, hát nói... đã nắm khá rõ về nguồn gốc cũng như những giá trị nghệ thuật của ca trù trong đời sống văn nghệ dân gian. Mỗi ngày họ đều đặn tập 15 phút, nhưng chỉ 15 phút thôi cũng đủ để họ tìm ra những tiếng hay, tiếng đẹp, tiếng rền và cách nảy chuẩn... Chị Hoà nói: "Trước đây, hai cháu chỉ hát những bài tầm thấp, chưa được trau chuốt, nhưng bây giờ đã tập được những bài hát lớn trong ca trù như Tỳ Bà Hành, Thét nhạc..." Việc được tập luyện từ nhỏ với các thành viên trong gia đình là điều kiện để các cháu phát huy năng khiếu mà theo chị Hoà thì có thể "bắt lỗi" và sửa ngay được...
Dù còn nhỏ nhưng Kiều Anh rất có ý thức trong việc gìn giữ, bảo tồn những giá trị văn hoá nghệ dân gian. Đến với Ca trù, ban đầu là do truyền thống gia đình, nhưng càng ngày, lối hát này càng ngấm vào người và cô đã say Ca trù không dứt ra được. Buổi sáng học văn hoá ở trường phổ thông Chu Văn An, thời gian còn lại, hầu như cô dành cho Ca trù. Sự biểu cảm của gương mặt, giọng hát và đặc biệt là tình yêu đối với Ca trù được thể hiện một cách rõ nét qua từng câu luyến láy, lên bổng, xuống trầm cũng như cách gõ phách của Kiều Anh. Với 7 huy chương vàng qua các cuộc thi, Kiều Anh đang tiếp tục sưu tầm những tấm huy chương cho mình với bộ môn Ca trù. Nhưng hơn thế, đó chính là niềm đam mê bộ môn nghệ thuật truyền thống mà cô luôn có ý thức gìn giữ và bảo tồn.
Gần 10 năm học hát, cần cù như con ong mỗi ngày, để nhặt nhạnh những tinh hoa từ vốn cổ của dòng tộc, Thu Thảo, Kiều Anh đã thấm nỗi nhọc nhằn và vinh quang của nghề hát.
Hương Lan(pháp luật và đời sống)