Menu

Dịch vụ pháp lý

TƯ VẤN PHÁP LUẬT

trong TƯ VẤN PHÁP LUẬT
TƯ VẤN PHÁP LUẬT - tu van phap luat - TƯ VẤN PHÁP LUẬT
Tư vấn luật Công ty Luật Hong Duc & Partners là công ty tư vấn luật chuyên nghiệp. Chúng tôi chuyên cung cấp các dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp trong các lĩnh vực: doanh nghiệp, sở hữu trí tuệ, hợp đồng, tranh chấp thương mại. Với bề dày truyền thống, Công ty Luật Hong Duc & Partners luôn cam kết cung cấp cho khách hàng các dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp với chất lượng và độ tin cậy cao nhất cùng các giải pháp sáng tạo, toàn diện cho các vấn đề của doanh nghiệp... Các dịch vụ của chúng tôi: Tư vấn luật thường xuyên cho các doanh nghiệp Tư vấn soạn thảo hợp đồng Tư vấn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam Tư vấn thành lập doanh nghiệp Tư vấn bảo hiểm xã hội Tư vấn giấy phép lao động cho người nước ngoài Tư vấn bảo hộ nhãn hiệu, bản quyền Tư vấn chuyển giao công nghệ Tư vấn lập sàn giao dịch bất động sản Dịch thuật tài liệu Tư vấn vay vốn ngân hàng Tư vấn giấy phép icp, game online…vv Tư vấn pháp luật trong tất cả các lĩnh vực Giới thiệu chuyên viên kế toán tài chính cho các doanh nghiệp Giới thiệu luật sư tham gia tố tụng…...... Các dịch vụ nêu trên chúng tôi cung cấp cho khách hàng dưới hai hình thức: + Ký hợp đồng giữa quý khách hàng và Hong Duc & Partners cho từng vụ việc cụ thể. + Ký Hợp Đồng Tư Vấn Thường Xuyên, với hình thức này chúng tôi đóng vai trò là luật sư thường trực tư vấn các vấn đề pháp lý phát sinh hàng ngày trong hoạt động sản xuất kinh doanh của quý khách hàng một cách kịp thời và nhanh chóng, quý khách hàng vừa tận dụng được trí tuệ tập thể của đội ngũ các luật sư có kinh nghiệm và chuyên sâu trong tất cả các lĩnh vực pháp luật, vừa tiết kiệm được chi phí do được hưởng mức phí thấp nhất bởi tính ưu việt của hình thức cung cấp dịch vụ này mang lại.

TƯ VẤN LUẬT TRỰC TUYẾN

trong TƯ VẤN PHÁP LUẬT
TƯ VẤN PHÁP LUẬT - tu van phap luat - TƯ VẤN LUẬT TRỰC TUYẾN
www.luathongdc.com Được thành lập bởi các luật sư, luật gia giỏi chuyên môn và giàu kinh nghiệm, với phương châm hoạt động thể hiện trong slogan của công ty: "Đồng hành cùng giá trị thực” Tư vấn luật LHD Law Firm  luôn tự hào là nhà cung cấp các dịch vụ tư vấn pháp luật trực tuyến chuyên nghiệp tại Việt Nam".   Hiện nay các thuật ngữ như: luật sư tư vấn trực tuyến; công ty luật trực tuyến; văn phòng luật sư trực tuyến; luật sư online, công ty luật online, văn phòng luật sư online. Những thuật ngữ ngày đã xuất hiện tự nhiên trong đời sống và người ta dần quen và chấp nhận nó như một sự mở rộng về ngôn ngữ, cũng như như mở rộng về phương thức hoạt động của các công ty luật và các văn phòng luật sư.. Tư vấn pháp luật trực tuyến là việc chủ thể cung cấp dịch vụ tư vấn luật thực hiện hoạt động tư vấn của mình với khách hàng trực tiếp thông qua các ứng dụng dựa trên nền tảng của công nghệ mạng như Chatting hoặc Voice IP với đường truyền Internet băng thông rộng…. Mặc dù mới ra đời ở nước ta nhưng nó ngày càng trở thành một kênh tư vấn pháp lý quan trọng bởi tính ưu việt và những thuận lợi mà nó đem lại cho người sử dụng đặc biệt với doanh nghiệp và nhà đầu tư. Bất kỳ doanh nghịêp hay cá nhân kinh doanh nào nào đều mong muốn nhanh chóng nắm bắt được các chính sách, quy định của pháp luật liên quan đến đến hoạt động của doanh nghiệp mình. Để giải quyết vướng mắc này, các doanh nghiệp tìm đến các công ty luật, những văn phòng luật sư để được cung cấp những thông tin cho cho những ý kiến tham vấn. Nhưng một mâu thuẫn là không phải lúc nào họ cũng có thời gian để tiếp xúc trực tiếp các công ty luật, với những luật sư. Hơn nữa, đôi khi có những vướng mắc về kiến thức pháp lý rất nhỏ, các doanh nghiệp, nhà đầu tư cũng phải thu xếp một cuộc tiếp xúc với công ty luật. Chính điều này làm quỹ thời gian vốn hạn hẹp của họ lại hạn hẹp hơn. Bởi lẽ đó mà tư vấn pháp lý trực tuyến đã ra đời như một điều tự nhiên của nhu cầu đời sống xã hội. Sự ra đời của hình thức mang tính đột phá này đã mở rộng hơn những thuật ngữ trong nghề luật. Với đội ngũ luật sư tư vấn pháp lý trực tuyến chuyên nghiệp chúng tôi đảm nhiệm việc cấp các dịch vụ khá toàn diện trên các mảng tư vấn: tư vấn doanh nghiệp trực tuyến, tư vấn thương mại trực tuyến, tư vấn đầu tư trực tuyến, tư vấn sở hữu trí tuệ trực tuyến và một số lĩnh vực tư vấn khác mà các cá nhân và doanh nghiệp quan tâm. Hệ thống tư vấn pháp luật trực tuyến của chúng tôi luôn sẵn sàng đồng hành cùng bạn

TƯ VẤN PHÁP LUẬT THƯỜNG XUYÊN

trong TƯ VẤN PHÁP LUẬT
TƯ VẤN PHÁP LUẬT - tu van phap luat - TƯ VẤN PHÁP LUẬT THƯỜNG XUYÊN
Nhằm đem đến cho các doanh nghiệp dịch vụ tư vấn pháp luật thường xuyên chuyên nghiệp, hoàn hảo và hiệu quả nhất. Luật Hồng Đức cung cấp Dịch vụ tư vấn pháp luật thường xuyên cho các doanh nghiệp trong các lĩnh vực pháp luật kinh doanh, thủ tục hành chính, thuế, tài chính, quản trị doanh nghiệp, lao động, sở hữu trí tuệ, pháp luật đầu tư  thông qua việc ký hợp đồng tư vấn pháp luật  thường xuyên. Khi ký hợp đồng tư vấn thường xuyên với Luật Hồng Đức, doanh nghiệp sẽ được Luật Hồng Đức đảm bảo hỗ trợ, thẩm định về mặt pháp lý khi tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, Cụ thể là:   Tư vấn và trả lời mọi câu hỏi của doanh nghiệp về các vấn đề pháp lý liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (đặc biệt ưu tiên tư vấn qua hình thức trả lời bằng văn bản qua email);   Tư vấn về quản lý doanh nghiệp, xây dựng phát triển và bảo vệ thương hiệu nói riêng, quyền sở hữu trí tuệ nói chung;   Thường xuyên cung cấp các thông tin mới nhất có liên quan hoặc có khả năng tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.   Cung cấp danh mục văn bản luật mới có liên quan đến lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp định kỳ (tuần, tháng) qua email, fax, thư tín;    Hỗ trợ khách hàng tối đa để đảm bảo tính chuẩn mực pháp lý và có lợi nhất, an toàn nhất trong tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh (Kiểm tra tính hợp pháp của các văn bản do doanh nghiệp phát hành ra bên ngoài cũng như các tài liệu mà doanh nghiệp nhận được);   Dành thời gian 01 ngày làm việc trực tiếp tại doanh nghiệp đối với doanh nghiệp không ở tại địa bàn Hà Nội chi phí đi lại, ăn ở phía doanh nghiệp phải trả cho nhân viên tư vấn.   Dành ưu đãi 10 đến 20% giá trị Hợp đồng khi hai bên ký các hợp đồng tư vấn cho các công việc cần triển khai ngoài phạm vi của tư vấn pháp luật  thường xuyên. Vì sao khách hàng chọn dịch vụ của Luật Hồng Đức  Tư vấn pháp luật thường xuyên là một phương thức tiết kiệm hiệu quả nhất của Các Công ty Luật trên toàn thế giới. Vậy sự khác biệt giữa Tư vấn thường xuyên và luât sư Công ty ở điểm nào ? Thứ nhất Khi doanh nghiệp bạn có một vấn đề đặt ra bạn sẽ nhận được Luật sư công ty Ý kiến của một người  Tư vấn pháp luật thường xuyên  Ý kiến của một tập thể vidu: tại LHD là 25 người.    Thứ hai   Chi phí: Luật sư công ty Chi phí lớn = hiệu quả nhỏ  Tư vấn pháp luật thường xuyên  Chi phí nhỏ = hiệu quả lớn    Vậy sử dụng dịch vụ Tư vấn thường xuyên ở đâu là phù hợp và hiệu quả ? Thứ Ba: Với hệ thống văn phòng đặt tại TP.HCM, Hà Nội, Đà Nẵng, Vũng Tàu Công ty Luật Hồng Đức đảm bảo Luật sư kịp thời cung cấp cho quý khách hàng khi có vụ việc xảy ra. Trong thời gian hợp đồng, doanh nghiệp còn được huấn luyện, bổ túc các chuyên đề pháp lý cơ bản dành cho người quản lý (nếu có nhu cầu). Như  sau:   SOẠN THẢO HỢP ĐỒNG * Các vấn đề cơ bản của một giao dịch dân sự và hợp đồng thương mại. * Chủ thể, nội dung, hình thức… của một hợp đồng thương mại. * Các trường hợp vô hiệu của hợp đồng. MẪU HỢP ĐỒNG  * Hợp đồng mua bán hàng hóa. * Hợp đồng dịch vụ. * Hợp đồng đại lý. * Hợp đồng hợp tác kinh doanh. SOẠN THẢO HỢP ĐỒNG VĂN BẢN PHÁP LÝ * Quyết định của Giám đốc công ty. * Biên bản họp HĐQT, BGĐ … * Công văn gửi khách hàng, đối tác. * Thông cáo báo chí. LAO ĐỘNG XỬ LÝ VI PHẠM * Hồ sơ nhân sự & Hợp đồng lao động. * Qui tắc đạo đức kinh doanh. * Kiểm soát và bảo mật thông tin doanh nghiệp. * Qui trình xử lý kỷ luật lao động. * Sa thải và chấm dứt hợp đồng lao động. * Vụ án lao động. TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI * Qui trình, thủ tục giải quyết một vụ án kinh tế. * Hồ sơ khởi kiện. * Vấn đề chứng cứ, giám định. LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ * Nhãn hiệu hàng hóa, dịch vụ. * Quyền tác giả. * Hợp đồng chuyển giao công nghệ * Vấn đề hàng nhái, hàng giả. HÀNH CHÍNH GIẤY PHÉP KINH DOANH  * Thay đổi nội dung kinh doanh. * Thành lập chi nhánh, công ty con … * Mua bán, chuyển nhượng vốn giữa các thành viên. * Mua bán, sát nhập, giải thể, phá sản. * Tranh chấp quyền lợi trong nội bộ công ty. (hợp đồng 12 tháng) THƯƠNG MẠI  * Vi phạm hợp đồng. * Môi giới thương mại. * Quảng cáo, khuyến mại. * Đấu giá, đấu thầu * Logistics, xuất nhập khẩu. ( hợp đồng 12 tháng)  TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI * Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại. * Qui tắc trọng tài. * Hồ sơ vụ kiện. (hợp đồng 12 tháng) GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG QUỐC TẾ * Vấn đề chọn luật áp dụng. * Các điều khoản không thể thiếu trong hợp đồng thương mại quốc tế. * Luật quốc tế về trọng tài thương mại. (hợp đồng 12 tháng) LUẬT CẠNH TRANH * Cạnh tranh không lành mạnh. * Bán hàng đa cấp. * Vụ kiện cạnh tranh không lành mạnh.  (hợp đồng 12 tháng)   KHÁCH HÀNG TIÊU BIỂU   HANACOBI WACOAL NAMVIET DAU KHI TOYOTA ...   Sử dụng dịch vụ của LHD Law Firm quý Khách có thể đăng ký gói dịch vụ hỏi đáp với 10 giờ tư vấn trực tuyến hàng tháng hoặc sử dụng gói Cung cấp 1 luật sư làm việc trực tiếp tại công ty của quý Khách từ 2 ngày / tuần để trực tiếp giải quyết công việc liên quan đến pháp lý.... Quý khách liên hệ sử dụng dịch vụ Tư vấn pháp luật thường xuyên vui lòng liên hệ với chúng tôi.   

LUẬT SƯ CHUYÊN TRANH TỤNG

trong LUẬT SƯ TRANH TỤNG
LUẬT SƯ TRANH TỤNG - luat su tranh tung - LUẬT SƯ CHUYÊN TRANH TỤNG
Với đội ngũ luật sư có nhiều kinh nghiệm trong việc giải quyết các tranh chấp tại Toà án các cấp, Công ty Luật Hồng Đức đáp ứng mọi yêu cầu của quý khách trong các vụ việc, vụ án như: dân sự, kinh tế, lao động, đất đai, hành chính, hôn nhân và gia đình… Theo đó, Công ty  Luật  Yourlawyer Hongduc cung cấp dịch vụ Luật sư tranh tụng theo yêu cầu của quý khách như: - Tư vấn luật về chiến lược giải quyết tranh chấp; phân tích và đánh giá về điểm mạnh, điểm yếu của các bên trong tranh chấp. - Tư vấn về cách thức, biện pháp giải quyết tranh chấp; đại diện cho khách hàng trong việc đàm phán giải quyết tranh chấp với đối tác. - Tham gia điều tra, thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ, tài liệu; tư vấn và hỗ trợ khách hàng soạn thảo, chuẩn bị hồ sơ xuất trình trước tòa án, trọng tài. - Tư vấn về thủ tục và quy trình liên quan đến thi hành án; nhận đại diện trong thủ tục thi hành án dân sự. - Đại diện theo ủy quyền và bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho đương sự trong các vụ án/việc dân sự, kinh doanh thương mại, lao động, hành chính. - Bào chữa cho người bị nghi là tội phạm trong vụ án hình sự. - Cử luật sư tham gia tố tụng với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự trong các vụ án dân sự, kinh tế, lao động, hành chính, hôn nhân gia đình. Trân trọng QUÝ KHÁCH CÓ NHU CẦU TƯ VẤN VUI LÒNG LIÊN HỆ VĂN PHÒNG HỒ CHÍ MINH:  (08) 22416866 -  (08) 22446739 - all@lhdfirm.com  VĂN PHÒNG HÀ NỘI:  0907 796 818 - hanoi@lhdfirm.com
 -  - Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài và cơ chế hỗ trợ của Tòa án
Trong bối cảnh Việt Nam đã gia nhập WTO và nền kinh tế nước ta đã chuyển sang mô hình phát triển theo thể chế thị trường, các tranh chấp kinh tế không những đơn thuần là tranh chấp giữa hai chủ thể giao kết hợp đồng kinh tế, mà còn có những tranh chấp dưới các dạng khác nhau phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh như tranh chấp giữa các thành viên trong công ty, tranh chấp về cổ phần, cổ phiếu, tranh chấp giữa công ty và các thành viên của công ty… Vậy, khi phát sinh tranh chấp thì doanh nghiệp cần tìm đến tổ chức nào để giải quyết một cách có hiệu quả, nhanh gọn, tránh những tổn thất quá lớn cho doanh nghiệp? Hiện nay, việc giải quyết các tranh chấp ở Việt Nam chủ yếu được xét xử thông qua hệ thống Toà án và Trung tâm trọng tài. Tuy nhiên, một vấn đề nhận thấy rõ ràng là hệ thống Toà án đã trở nên quá tải, dẫn đến tăng lượng vụ tồn đọng, không kịp giải quyết, do đó làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Theo thống kê của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC), trong khi Toà kinh tế Hà Nội trong năm 2007 phải xử gần 9.000 vụ án, trong đó có khoảng 300 vụ án kinh tế và Toà kinh tế thành phố Hồ Chí Minh phải xử gần 42.000 vụ án các loại, trong đó có 1.000 vụ án kinh tế, thì VIAC cũng chỉ tiếp nhận khoảng 30 vụ (1). Tính trung bình mỗi trọng tài viên của VIAC chỉ xử 0, 25 vụ một năm, trong khi mỗi thẩm phán Toà kinh tế Hà Nội phải xử trên 30 vụ một năm và mỗi thẩm phán ở Toà kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh xử trên 50 vụ một năm. Theo thống kê năm 2007 về giải quyết các vụ tranh chấp về dân sự, kinh doanh, thương mại và lao động, thì Toà án các tỉnh đã thụ lý 108.060 vụ; đã xử lý được 80.773 vụ. Ngoài ra, có 1.280 vụ được kháng cáo lên Toà án nhân dân tối cao. Những con số này ngoài việc cho thấy sự phổ biến việc xử lý các tranh chấp bằng Toà án còn cho thấy phần nào sự quá tải của hệ thống Toà án (2). Các tranh chấp giữa các bên Việt Nam và các bên nước ngoài vẫn tiếp tục được xét xử chủ yếu bằng trọng tài tại Trung tâm Trọng tài quốc tế Singapore (119 vụ), Hiệp hội Trọng tài Mỹ (621 vụ); Toà án Trọng tài Quốc tế bên cạnh Phòng Thương mại Quốc tế ICC (599 vụ); Hội đồng Trọng tài Thương mại và Kinh tế Trung Quốc (1.118 vụ); Trung tâm Trọng tài Quốc tế Hồng Kông (448 vụ)(3). 1. Trọng tài – một phương thức giải quyết tranh chấp ưu việt Theo luật pháp hiện hành của Việt Nam, việc giải quyết tranh chấp kinh tế được thực hiện bằng một trong hai con đường: Một là, giải quyết tại Toà án nhân dân theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hai là, giải quyết bằng trọng tài theo quy định của Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003; Nghị định số 25/2004/NĐ-CP của Chính phủ. Toà án là cơ quan xét xử của Nhà nước, nhân danh Nước CHXHCN Việt Nam quyết định đưa vụ tranh chấp ra xét xử theo trình tự tố tụng dân sự được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình tố tụng như vậy, đương nhiên là phải chặt chẽ, với nhiều thủ tục tố tụng rườm rà, thời gian kéo dài; xét xử công khai; án được tuyên không tuỳ thuộc ý chí các bên mà là kết quả nghị án của Hội đồng xét xử; án đã tuyên dù có quyền kháng cáo, nhưng “gỡ” được không phải dễ. Trong khi đó, trọng tài thương mại là một tổ chức phi chính phủ, chỉ nhận giải quyết các vụ tranh chấp khi các bên có thoả thuận bằng văn bản về việc chọn trọng tài. Quá trình giải quyết, được thực hiện theo nguyên tắc “phân xử trọng tài” phù hợp với quy định trong Pháp lệnh Trọng tài thương mại và quy chế của Tổ chức trọng tài mà các bên đã lựa chọn. Như vậy, có nhiều phương thức giải quyết tranh chấp ngoài con đường Toà án như thương lượng, trung gian, hoà giải… nhưng so với các phương thức giải quyết tranh chấp bằng Toà án thì việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài có một số ưu điểm như sau: Thứ nhất, tính chung thẩm và hiệu lực của quyết định trọng tài đối với việc giải quyết tranh chấp Việc giải quyết tranh chấp tại Trung tâm trọng tài thương mại có ưu điểm nổi bật so với Tòa án ở chỗ nhanh gọn, kín đáo và phán quyết của trọng tài là có giá trị chung thẩm, tức có hiệu lực cuối cùng. Trong khi Tòa án xử thì phải 2 – 3 lần, từ sơ thẩm đến phúc thẩm, rồi còn thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, rồi còn khiếu nại, khiếu kiện và còn có sự tham gia của nhiều cơ quan khác (như Viện kiểm sát…). Còn cách thức giải quyết bằng trọng tài lại hết sức đơn giản và linh động. Tính chung thẩm của quyết định trọng tài không chỉ có giá trị bắt buộc đối với các bên đương sự mà nó còn khiến các bên không thể chống án hay kháng cáo. Xét xử tại trọng tài chỉ có một cấp xét xử. Khi tuyên phán quyết xong, Uỷ ban Trọng tài (Hội đồng trọng tài) hoàn thành nhiệm vụ và chấm dứt sự tồn tại của mình. Những ưu điểm này đặc biệt quan trọng đối với hoạt động đầu tư thương mại. Chính những ưu điểm đó bảo đảm rằng nếu các bên ưu tiên giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thì các nhà đầu tư sẽ giảm rủi ro cho bên nước ngoài khi quyết định tham gia đầu tư thương mại tại Việt Nam; tạo thuận lợi cho các bên nước ngoài và cả bên Việt Nam thông qua việc giải quyết tranh chấp tại Việt Nam. Quyết định trọng tài được thực hiện ngay, đáp ứng yêu cầu khôi phục nhanh những tổn thất về tiền, hàng trong kinh doanh thương mại. Quyết định trọng tài là quyết định cuối cùng và có hiệu lực pháp luật, như bản án của Toà án. Tuy là chung thẩm, nhưng tố tụng trọng tài không đặt vấn đề cưỡng chế thi hành, nên bên đương sự nào không chấp nhận phán quyết của trọng tài thì có thể kiện ra Toà kinh tế theo thủ tục giải quyết các vụ án. Thứ hai, trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp bí mật Trọng tài là một tiến trình giải quyết tranh chấp có tính riêng biệt. Hầu hết pháp luật về trọng tài của các nước đều thừa nhận nguyên tắc trọng tài xử kín (in camera) nếu các bên không quy định khác. Tính bí mật thể hiện rõ ở nội dung tranh chấp và danh tính của các bên được giữ kín, đáp ứng nhu cầu tin cậy trong quan hệ thương mại. Điều đó có ý nghĩa lớn trong điều kiện cạnh tranh. Đây là ưu điểm đối với những doanh nghiệp không muốn các chi tiết trong vụ tranh chấp của mình bị đem ra công khai, tiết lộ trước Tòa án (hoặc công chúng) – điều mà các doanh nghiệp luôn coi là tối kỵ trong hoạt động kinh doanh của mình. Thứ ba, trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp liên tục Các bên đương sự được tự do lựa chọn trọng tài viên. Cách thức lựa chọn trọng tài và Hội đồng trọng tài phát huy tính dân chủ, khách quan trong quá trình tố tụng. Hoạt động trọng tài diễn ra liên tục vì Hội đồng trọng tài (Uỷ ban trọng tài) xét xử vụ kiện đã được các bên lựa chọn, hoặc được chỉ định để giải quyết vụ kiện đó. Khi mang một vụ việc ra xét xử ở Toà án, có khả năng thẩm phán được chỉ định giải quyết vụ việc không có trình độ chuyên môn liên quan đến đối tượng tranh chấp, đặc biệt các ngành có đặc thù chuyên môn cao như: dầu khí, xây dựng, tài chính, đầu tư, bảo hiểm… Khi giải quyết bằng trọng tài, các bên hoàn toàn có thể lựa chọn trọng tài viên có trình độ chuyên môn (4) phù hợp với đối tượng tranh chấp, góp phần nâng cao hiệu quả, công bằng và chính xác trong giải quyết tranh chấp. Trọng tài viên – người chủ trì phân xử tranh chấp theo suốt vụ kiện từ đầu đến cuối, vì vậy, họ có cơ hội tìm hiểu tình tiết vụ việc. Điều này có lợi ngay cả khi các bên muốn hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp thông qua đàm phán, trọng tài có thể hỗ trợ các bên đạt tới một thỏa thuận. Thứ tư, trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp mềm dẻo, nhanh chóng, linh hoạt cho các bên Tòa án, khi xét xử các bên hoàn toàn phụ thuộc vào sự chỉ đạo của Toà án về thủ tục, thời gian, địa điểm, cách thức xét xử… được quy định trước đó. Trong khi đó, với trọng tài, các bên thông thường được tự do lựa chọn thủ tục, thời gian, địa điểm phương thức giải quyết tranh chấp theo phương thức tiện lợi, nhanh chóng, hiệu quả nhất cho các bên trong khuôn khổ pháp luật cho phép. Điều này có thể làm giảm chi phí, thời gian và tăng hiệu quả cho quá trình giải quyết tranh chấp. Thứ năm, tiết kiệm thời gian Tính liên tục, đặc biệt trong hoạt động kinh doanh quốc tế đòi hỏi các bên không thể lãng phí thời gian, điều mà các Tòa án sẽ rất khó đáp ứng được do luôn phải giải quyết nhiều tranh chấp cùng một lúc, gây ra khả năng ách tắc hồ sơ. Giải quyết tranh chấp bằng Tòa án cho phép các bên được quyền kháng án cũng làm cho tiến độ bị kéo dài. Trong thực tế, giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, ví dụ như giải quyết tranh chấp bằng VIAC thường kéo dài tối đa là 6 tháng, còn tại Tòa án có thể kéo dài hàng năm trời. Thứ sáu, duy trì được quan hệ đối tác Việc thắng, thua trong tố tụng tại trọng tài kinh tế vẫn giữ được mối hoà khí lâu dài giữa các bên tranh chấp. Đây là điều kiện không làm mất đi quan hệ hợp tác kinh doanh giữa các đối tác. Bởi lẽ tố tụng tại trọng tài là tự nguyện. Xét xử bằng trọng tài sẽ làm giảm mức độ xung đột căng thẳng của những bất đồng trên cơ sở những câu hỏi gợi mở, trong một không gian kín đáo, nhẹ nhàng… Đó là những yếu tố tạo điều kiện để các bên duy trì được quan hệ đối tác, quan hệ thiện chí đối với nhau và đặc biệt, sự tự nguyện thi hành quyết định trọng tài của một bên sẽ làm cho bên kia có sự tin tưởng tốt hơn trong quan hệ làm ăn trong tương lai. Thứ bảy, trọng tài cho phép các bên sử dụng được kinh nghiệm của các chuyên gia Ưu điểm này thể hiện ở quyền được chọn trọng tài viên của các bên đương sự, điều mà không tồn tại ở Tòa án. Các bên có thể chọn một Hội đồng trọng tài dựa trên năng lực, sự hiểu biết vững vàng của họ về pháp luật thương mại quốc tế, về các lĩnh vực chuyên ngành có tính chuyên sâu như chứng khoán, licensing, leasing, xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ, sở hữu trí tuệ… Thứ tám, tuy là giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài – một tổ chức phi chính phủ, nhưng được hỗ trợ, bảo đảm về pháp lý của Toà án trên các mặt sau: Xác định giá trị pháp lý của thoả thuận trọng tàiX; giải quyết khiếu nại về thẩm quyền của Hội đồng trọng tài; ra lệnh áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; xét đơn yêu cầu huỷ quyết định trọng tài; công nhận và thi hành quyết định trọng tài. Trong quá trình giải quyết tranh chấp, nếu quyền và lợi ích của một bên bị xâm hại hoặc có nguy cơ xâm hại thì có quyền làm đơn yêu cầu Toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, nhằm: bảo toàn chứng cứ trong trường hợp chứng cứ bị tiêu huỷ hoặc có nguy cơ bị tiêu huỷ; kê biên tài sản tranh chấp để ngăn ngừa việc tẩu tán tài sản; cấm chuyển dịch tài sản tranh chấp; cấm thay đổi hiện trạng của tài sản tranh chấp; kê biên và niêm phong tài sản ở nơi gửi giữ; phong toả tài khoản tại ngân hàng. Việc đánh giá và sử dụng nguồn chứng cứ tại các cơ quan trọng tài rộng hơn, tự do hơn, mang tính xã hội hơn, tạo điều kiện cho các bên làm sáng tỏ những vấn đề nhạy cảm. Trong khi đó, Toà án áp dụng các chứng cứ để tố tụng bị ràng buộc hơn về mặt pháp lý, làm cho các bên tham gia tố tụng không có cơ hội làm sáng tỏ hết được nhiều vấn đề khúc mắc, không thể hiện trên các chứng cứ “pháp lý”. 2. Cơ chế hỗ trợ của Toà án đối với giải quyết tranh chấp bằng trọng tài – Thực trạng và nguyên nhân Sự ra đời của Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 (Pháp lệnh trọng tài) đã đánh dấu một bước tiến mới trong việc hình thành và hoàn thiện pháp luật về trọng tài tại Việt Nam, đáp ứng nhu cầu lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp của cộng đồng doanh nghiệp. Thực tiễn áp dụng Pháp lệnh trọng tài trong hơn 6 năm qua, tuy được đánh giá có nhiều điểm tiến bộ cùng với sự xuất hiện của nhiều nhân tố mới (như: Việt Nam đã là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới, với sự xuất hiện của các đạo luật mới như Luật Thương mại năm 2005, Luật Đầu tư năm 2005…), nhưng một số quy định của Pháp lệnh đã bộc lộ sự bất cập do một số nguyên nhân chủ yếu như: thẩm quyền của trọng tài còn nhiều hạn chế về phạm vi, chưa xác định cụ thể, rõ ràng, thống nhất và chắc chắn; đội ngũ trọng tài viên ở trong nước chưa phát triển, chưa đạt trình độ và uy tín bảo đảm sự tin cậy của các bên tranh chấp, nhất là các bên nước ngoài…. Bên cạnh đó, một trong những bất cập có ảnh hưởng trực tiếp tới hệ thống trọng tài Việt Nam là cơ chế hỗ trợ của Toà án đối với trọng tài chưa hiệu quả, đặt trọng tài vào vị trí bất lợi hơn nhiều so với Toà án liên quan đến một số vấn đề sau: 2.1 Vấn đề xem xét thoả thuận trọng tài, thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp của Hội đồng Trọng tài Theo quy định tại Điều 30, thì khi có khiếu nại của một bên về việc Hội đồng Trọng tài không có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp; vụ tranh chấp không có thoả thuận trọng tài hoặc thoả thuận trọng tài vô hiệu, Hội đồng Trọng tài phải xem xét, quyết định với sự có mặt của các bên, trừ trường hợp các bên có yêu cầu khác.Tuy nhiên, có một số vấn đề còn chưa rõ đó là trường hợp một bên khiếu nại về thẩm quyền của trọng tài ra Toà án theo Điều 30. Toà án xem xét và quyết định trọng tài có thẩm quyền. Sau đó, Hội đồng trọng tài giải quyết vụ tranh chấp và ra quyết định trọng tài. Vậy khi Hội đồng trọng tài đã ra Quyết định trọng tài thì các bên có quyền làm đơn yêu cầu Toà án huỷ Quyết định trọng tài không có thẩm quyền theo Điều 54 của Pháp lệnh hay không? Trong trường hợp chưa có Quyết định của Hội đồng trọng tài mà một bên khiếu nại ra Toà án về vấn đề thẩm quyền thì Hội đồng trọng tài có tiếp tục giải quyết vụ tranh chấp hay dừng việc giải quyết vụ tranh chấp? Như vậy, một là, có tranh chấp về “thẩm quyền” giữa trọng tài và Toà án trong giải quyết các vụ việc tranh chấp cụ thể cho dù các bên đã có thoả thuận trọng tài và trong trường hợp này, trọng tài chưa phải là phương thức giải quyết tranh chấp được ưu tiên áp dụng. Hai là, căn cứ vào điều kiện để Toà án tuyên huỷ phán quyết của trọng tài là dễ dàng, có phần tuỳ ý và ít tốn kém đối với bên “thua kiện”. Tiêu chí Toà án huỷ quyết định của trọng tài còn chưa rõ và rất dễ bị lạm dụng. 2.2 Về biện pháp khẩn cấp tạm thời Thứ nhất, Pháp lệnh Trọng tài đã xây dựng được chế định hết sức quan trọng và có ý nghĩa trong tố tụng trọng tài đó là quyền các bên tranh chấp được yêu cầu Toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Tuy nhiên quy định này vẫn có điểm chưa hợp lý. Điều 33 quy định “Trong quá trình Hội đồng trọng tài giải quyết vụ tranh chấp, nếu quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại hoặc có nguy cơ trực tiếp bị xâm hại thì các bên có quyền làm đơn đến Toà án cấp tỉnh nơi Hội đồng trọng tài thụ lý vụ tranh chấp yêu cầu áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời”. Theo quy định trên, nếu muốn áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, các bên phải chờ đến khi Hội đồng Trọng tài được thành lập. Tuy nhiên, nếu phải chờ đợi như vậy thì trong một số trường hợp, biện pháp này sẽ không còn ý nghĩa gì nữa. Do bản chất của biện pháp khẩn cấp tạm thời mang tính nhanh chóng, khẩn trương, kịp thời, nên biện pháp này phải được áp dụng ngay khi một bên thấy rằng quyền lợi hợp pháp của mình có nguy cơ bị xâm phạm, không nhất thiết phải chờ đợi đến khi khởi kiện hoặc Hội đồng trọng tài được thành lập. Thứ hai, Pháp lệnh Trọng tài chỉ giới hạn thẩm quyền của Toà án, nơi Hội đồng trọng tài thụ lý vụ tranh chấp mới có quyền ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Điều này có thể gây khó khăn cho cả Toà án và các bên trong quá trình áp dụng quy định này. Ví dụ khi các bên khởi kiện ra Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam, theo Pháp lệnh Trọng tài, nếu muốn áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì chỉ được phép làm đơn yêu cầu Toà án nhân dân Hà Nội ra lệnh áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Điều này chỉ hợp lý và thuận tiện khi cả hai bên đều có trụ sở tại Hà Nội hoặc đối tượng tài sản yêu cầu áp dụng đặt tại Hà Nội. Khi tài sản nằm ở địa bàn khác, nhất là trường hợp tài sản ở nước ngoài, mà yêu cầu Toà án Hà Nội ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời sẽ không khả thi và không hợp lý. 2.3 Vấn đề triệu tập nhân chứng Pháp lệnh Trọng tài không xác lập cơ chế hỗ trợ của Toà án đối với trọng tài trong việc thu thập chứng cứ và triệu tập nhân chứng. Đây là quy định quan trọng trong tố tụng trọng tài. Quá trình giải quyết tranh chấp không chỉ có các bên mà nhiều trường hợp có liên quan đến người thứ ba hoặc bên thứ ba. Trong khi Toà án có thẩm quyền đương nhiên trong việc triệu tập các đối tượng này thì trọng thì lại không có thẩm quyền. Vấn đề này, Luật Trọng tài các nước có quy định rất rõ Hội đồng trọng tài hoặc một bên được sự đồng ý của Hội đồng trọng tài có thể yêu cầu Toà án có thẩm quyền trợ giúp thu thập chứng cứ, triệu tập nhân chứng có mặt tại trọng tài. Do không có cơ chế hỗ trợ nêu trên, các luật sư và doanh nghiệp vẫn băn khoăn khi lựa chọn trọng tài Việt Nam để giải quyết tranh chấp. 2.4 Quy định về huỷ quyết định trọng tài Quy định về huỷ quyết định trọng tài còn nhiều bất cập. Một trong những nguyên nhân khiến cho cả số lượng quyết định trọng tài bị yêu cầu huỷ gia tăng đó là cơ chế huỷ quyết định trọng tài quá đơn giản. Điều 50 của Pháp lệnh quy định “Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định trọng tàiQ, nếu có bên không đồng ý với quyết định trọng tài thì có quyền làm đơn gửi Toà án cấp tỉnh nơi Hội đồng trọng tài ra quyết định trọng tài để yêu cầu huỷ quyết định trọng tài”. Tranh chấp là vấn đề phức tạp, khi các bên không thể tự giải quyết được mới đưa ra trọng tài để giải quyết. Do vậy, quyết định trọng tài khó có thể thoả mãn được cả hai bên. Trong khi đó, theo Pháp lệnh chỉ cần điều kiện “không đồng ý với quyết định trọng tài” thì có quyền làm đơn yêu cầu huỷ. Điều này vô hình trung đã khuyến khích các bên làm đơn yêu cầu huỷ quyết định trọng tài với nhiều mục đích khác nhau, đặc biệt là để kéo dài thời hạn thi hành quyết định trọng tài, để kịp tẩu tán tài sản. Một khi đưa đơn yêu cầu huỷ ra Toà án, thủ tục giải quyết đơn yêu cầu huỷ tại Toà án phải qua hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm, thời gian giải quyết tại Toà án cũng không xác định là bao lâu. Như vậy, nếu như các bên mong muốn được giải quyết tranh chấp bằng trọng tài do trọng tài có ưu điểm nhanh chóng, đơn giản thì thực tế các quy định của Pháp lệnh trọng tài lại không được như các bên mong đợi. Vấn đề này cần sớm được khắc phục để tránh sự lạm dụng một cách có chủ ý của các bên, nhất là bên thua kiện tại trọng tài. Nếu không sớm giải quyết, các quyết định trọng tài sẽ có nguy cơ trở thành các bản án sơ thẩm. 3. Giải pháp nâng cao cơ chế hỗ trợ của Toà án đối với giải quyết tranh chấp bằng trọng tài Thứ nhất, mở rộng, xác định rõ và cụ thể phạm vi thẩm quyền của trọng tài. Cụ thể, phạm vi thẩm quyền của trọng tài có thể bao gồm: i) Tất cả các tranh chấp dân sự, kinh tế và lao động đều có thể giải quyết bằng trọng tài, trừ một số ít các trường hợp được quy định cụ thể (5); ii) Các tranh chấp giữa cơ quan quản lý nhà nước và nhà đầu tư trong việc chuẩn bị đầu tư, thực hiện và quản lý dự án đầu tư, khuyến khích và ưu đãi đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam cũng có thể được giải quyết bằng trọng tài (6). Thứ hai, mở rộng tiêu chí xác định thoả thuận trọng tài. Cần phải làm rõ, đầy đủ cả hình thức và nội dung của thoả thuận trọng tài, bao quát hết các trường hợp thoả thuận của các bên về giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, bao gồm: i) Xác định rõ nội dung tối thiểu của thoả thuận trọng tài, là sự đồng ý của các bên về việc sử dụng trọng tài như một trong số các hình thức giải quyết tranh chấp, hoặc đồng ý chọn trọng tài để giải quyết tranh chấp; ii) Xác định rõ và cụ thể các trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu; iii), Xác định rõ và cụ thể các thoả thuận trọng tài không thể thực hiện được. Thứ ba, Hội đồng trọng tài là cơ quan duy nhất quyết định hiệu lực của thoả thuận trọng tài. Thứ tư, nếu các bên có tranh chấp về hiệu lực thoả thuận trọng tài (kể cả tranh chấp giữa các bên hoặc giữa một hoặc các bên với Trung tâm trọng tài) thì Toà án là nơi có quyền quyết định hiệu lực của thoả thuận trọng tài. Tuy nhiên, cần xác định rõ thẩm quyền của Toà án và hiệu lực của quyết định của Toà án trong trường hợp này. Thứ năm, xác định chặt chẽ, rõ ràng, hợp lý tiêu chí xác định Toà án có thẩm quyền đối với trọng tài theo hướng linh hoạt; đồng thời cần xác định rõ trong trường hợp nếu nhiều Toà án có thẩm quyền thì Trung tâm trọng tài có quyền lựa chọn một trong các Toà án đó và quy định rõ trách nhiệm hợp tác, phối hợp công việc của Toà án và không được quyền từ chối. Thứ sáu, cần quy định cụ thể, chi tiết “trách nhiệm của Toà án” trong việc thu thập chứng cứ, lưu giữ chứng cứ về hình thức và nội dung yêu cầu của trọng tài, cụ thể là (7) trong thời hạn cụ thể mà Toà án phải xem xét và chỉ định một thẩm phán có trách nhiệm thu thập chứng cứ; Toà án thông báo bằng văn bản về việc chỉ định thẩm phán. Đặc biệt phải xác định rõ trách nhiệm của Toà án trong việc bảo đảm sự có mặt của người làm chứng (8), xác định rõ trình tự thủ tục nhanh chóng, thuận tiện trong việc yêu cầu Toà án áp dụng các biện pháp khẩn cấp, tạm thời. Thứ bảy, xác định rõ các trường hợp Toà án có thể huỷ quyết định của trọng tài theo hướng hạn chế hơn việc huỷ quyết định trọng tài. Thứ tám, cho phép Hội đồng trọng tài được áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và trực tiếp yêu cầu cơ quan thi hành án hỗ trợ thực hiện biện pháp này. Thứ chín, tăng cường sự hỗ trợ của Cơ quan thi hành án đối với thực thi quyết định của trọng tài thông qua việc quy định rõ tiêu chí xác định cơ quan thi hành có liên quan. Thi hành đầy đủ, kịp thời và hiệu quả phán quyết trọng tài là một trong số các giải pháp cơ bản nâng cao độ tin cậy và tính hấp dẫn của trọng tài đối với các bên tranh chấp. Phán quyết trọng tài là chung thẩm, có hiệu lực kể từ ngày công bố. Các bên tranh chấp phải thừa nhận, tôn trọng và nghiêm túc thực hiện đầy đủ, kịp thời. Tuy vậy, trong trường hợp các bên không tự nguyện thi hành thì sự can thiệp và hỗ trợ kịp thời, có hiệu quả của Cơ quan thi hành án là không thể thiếu, để bảo đảm hiệu lực của phán quyết trọng tài. Với các giải pháp nâng cao cơ chế hỗ trợ của Toà án trong việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài nhằm mục tiêu xây dựng một hệ thống trọng tài có chất lượng, đáng tin tưởng sẽ “kéo” hoạt động giải quyết tranh chấp quay trở lại Việt Nam, góp phần thúc đẩy ngành trọng tài và xa hơn nữa, điều này có thể hấp dẫn những bên tranh chấp ngoài Việt Nam đến giải quyết tranh chấp tại Việt Nam. Việc khuyến khích giải quyết tranh chấp qua đường trọng tài cũng sẽ giảm tải gánh nặng về công việc cho hệ thống Toà án và góp phần nâng cao chất lượng và sự tin cậy đối với hệ thống Toà án. Tất cả điều này sẽ góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, tạo điều kiện thúc đẩy hơn nữa các hoạt động dân sự, thương mại, nhất là trong hoàn cảnh toàn cầu hoá như hiện nay. Thiết nghĩ, cần phải nâng Pháp lệnh Trọng tài thành Luật Trọng tài và ban hành Luật về Hoạt động của các tổ chức phi chính phủ. Có như vậy, mới tạo ra được những yếu tố bền vững đối với việc tổ chức và hoạt động của các tổ chức phi chính phủ. Mục tiêu quan trọng nhất của Luật Trọng tài là tạo một cơ chế giải quyết tranh chấp ngoài Toà án thuận lợi cho các bên, đặc biệt là các bên tham gia các hoạt động thương mại, đầu tư. Cụ thể hơn, mục tiêu của Luật Trọng tài nhằm khuyến khích việc giải quyết tranh chấp thông qua hệ thống trọng tài, qua đó giảm tải công việc cho hệ thống Toà án. Luật Trọng tài ban hành nhằm giảm tải khoảng 30% số lượng tranh chấp kinh tế cho Toà án, chuyển sang giải quyết thông qua hệ thống trọng tài vào năm 2015 (9). Trong thời gian tới khi Luật Trong tài có hiệu lực, việc giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài sẽ hứa hẹn một bước phát triển, trong những năm tới, đáp ứng được nhu cầu của các doanh nghiệp trong tranh chấp kinh tế. Chú thích: (1) VIAC có 140 trọng tài viên. Năm 2004 thụ lý 26 vụ; năm 2005 thụ lý 18 vụ; năm 2008 thụ lý 48 vụ. Tính trung bình mỗi năm số vụ việc giải quyết tăng khoảng 15. (2) Số liệu thống kê tình hình xét xử của Toà án ở 64 tỉnh thành phố giai đoạn 1/1/2007 đến 31/12/2007. (3) https://www.hkiac.org/HKIAC/HKIAC_English/main/html). (4) VIAC có danh sách Trọng tài viên gồm 123 người trong đó phân chia lĩnh vực chuyên môn của trọng tài viên như sau: chuyên gia pháp luật (52%); tài chính, ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm (12%); xây dựng cơ khí (7%), vận tải đường biển, đường hàng không, đường bộ (4,8%), sở hữu trí tuệ (3,1%), các lĩnh vực khác (18%). (5) Bao gồm: (i) tranh chấp liên quan đến quyền nhân thân, hôn nhân, gia đình và thừa kế được giải quyết theo quy định tương ứng của pháp luật dân sự; (ii) Giải quyết tranh chấp liên quan đến phá sản thực hiện theo quy định của pháp luật về phá sản; (iii) giải quyết tranh chấp liên quan đến vụ vi phạm pháp luật về cạnh tranh thực hiện theo quy định của pháp luật về khuyến khích cạnh tranh và kiểm soát độc quyền kinh doanh; về bảo vệ người tiêu dùng, về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; về các hợp đồng giao kết do bị ép buộc, bị lừa dối. (6) Đây là cụ thể hoá các quy định tương ứng Luật Đầu tư về giải quyết tranh chấp. (7) Điều 15 Dự thảo Luật Trọng tài quy định. (8) Dự thảo Luật Trọng tài: Khi có yêu cầu của một bên hoặc của Hội đồng trọng tài, Toà án có trách nhiệm tiến hành các biện pháp cần thiết bảo đảm sự có mặt của người làm chứng đúng như yêu cầu tại các phiên xét xử của trọng tài. (9) Báo cáo đánh giá tác động dự kiến của Luật Trọng tài thương mại. SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP ĐIỆN TỬ  
 -  - Từ ngữ và luật pháp
Bài viết này bàn về một số thuật ngữ trong pháp luật kinh doanh dựa vào ý kiến của một số chuyên gia, luật sư tại các hội thảo liên quan do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) thực hiện. Về thuật ngữ “doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài” Luật Đầu tư 2005 giải thích “Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam; doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại”. Theo đó, có thể hiểu chỉ cần có 1% vốn nước ngoài cũng được coi là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Cách hiểu như vậy có lẽ chỉ gây rắc rối với những doanh nghiệp kinh doanh có ngành nghề trong danh mục hạn chế nhà đầu tư nước ngoài (NĐTNN) như trường hợp Mekophar (vốn nước ngoài chiếm gần 5%). Tuy nhiên, nó lại là một cơ hội cho các doanh nghiệp trong nước khác khi Nhà nước đã bảo hộ họ khỏi những đối thủ nước ngoài. Nguyên Bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển cho rằng: “Doanh nghiệp tham gia phân phối dược phẩm lẽ ra không được niêm yết. Nếu cho niêm yết, phải có chính sách riêng về room ngoại”. Như vậy, không chỉ doanh nghiệp niêm yết mà cả doanh nghiệp chưa niêm yết cũng phải cân nhắc khi cho NĐTNN góp vốn, mua cổ phần. Giải pháp đưa ra là Nhà nước có thể mở room cho NĐTNN vào những doanh nghiệp này nhưng mức tỷ lệ chắc chắn phải thấp hơn rất nhiều mức 49% như một số ý kiến đề xuất, vì thực tế với tỷ lệ này NĐTNN hoàn toàn có thể thông qua nhiều cách thức khác nhau để chi phối doanh nghiệp, chi phối thị trường. Một vấn đề khác liên quan đến vốn đầu tư nước ngoài là quy định về đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp. Trong Luật Đầu tư thì hình thức góp vốn, mua cổ phần có thể là đầu tư trực tiếp hay gián tiếp tùy thuộc vào việc nhà đầu tư có tham gia quản lý doanh nghiệp hay không. Trong khi đó, NĐTNN đầu tư gián tiếp thông qua thị trường chứng khoán (Luật Chứng khoán điều chỉnh) hoàn toàn có quyền tham gia quản lý doanh nghiệp, việc có tham gia quản lý hay không phụ thuộc vào tỷ lệ góp vốn. Do đó, phân biệt đầu tư trực tiếp và gián tiếp thông qua quyền tham gia quản lý là không chính xác và luật cũng không giải thích rõ thế nào là tham gia quản lý? Vì sự lẫn lộn này nên có ý kiến yêu cầu áp dụng luật ưu tiên là Luật Chứng khoán thay vì áp dụng Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư cho trường hợp của Mekophar với lý do Mekophar đã lên sàn nên NĐTNN được nắm giữ đến 49% vốn điều lệ. Như vậy nên bỏ quy định hình thức đầu tư trực tiếp và gián tiếp như khuyến nghị của ban soạn thảo. Thuật ngữ “người đại diện theo ủy quyền” Điều 4.14 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định: “Người đại diện theo ủy quyền là cá nhân được thành viên, cổ đông là tổ chức của công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần ủy quyền bằng văn bản thực hiện các quyền của mình tại công ty theo quy định của luật này”. Quy định như vậy có nghĩa “cổ đông là cá nhân trong công ty cổ phần không được phép ủy quyền cho người khác”. Để tham gia quản lý doanh nghiệp có vốn góp thì tổ chức phải thông qua cá nhân cụ thể đại diện cho phần vốn góp đó, việc ủy quyền đó phải thông qua những tiêu chuẩn và điều kiện cụ thể nhằm đảm bảo minh bạch. Tuy nhiên, trong phần quy định về công ty cổ phần thì không quy định cụ thể về người đại diện theo ủy quyền. Vì việc cử người đại diện của công ty cổ phần sẽ rắc rối hơn do phải tham gia vào quá trình bầu, miễn nhiệm thành viên hội đồng quản trị thông qua đại hội đồng cổ đông, do đó, tổ chức có bị hạn chế quyền thay thế, rút người đại diện của mình trong hội đồng quản trị hay không thì Luật Doanh nghiệp 2005 không đề cập. Thuật ngữ “doanh nghiệp nhà nước” Luật Doanh nghiệp 2005 quy định: “Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ”. Xác định như vậy là chưa hợp lý. Như vậy doanh nghiệp mà Nhà nước nắm 49% vốn thì gọi là doanh nghiệp gì? Hơn nữa, dù là doanh nghiệp nhà nước nhưng Nhà nước cũng không thể thông qua các quyết định quan trọng nếu không nắm giữ trên 75% vốn điều lệ, và nếu kết hợp giữa Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư thì chúng ta sẽ có thêm khái niệm mới là “doanh nghiệp nhà nước có vốn đầu tư nước ngoài”!? Mặt khác, quy định này cũng bất công với nhà đầu tư tư nhân và nước ngoài khi góp vốn cùng Nhà nước nhưng lại bị hiểu là “doanh nghiệp của nhà nước”!? Để hiểu đúng về hai khái niệm “doanh nghiệp nhà nước” và “doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài” cần nhận thức trên cơ sở các thành phần kinh tế trong nền kinh tế nước ta. “Doanh nghiệp nhà nước” không phải là một loại hình doanh nghiệp mà là khái niệm liên quan hình thức sở hữu, doanh nghiệp nhà nước thuộc thành phần kinh tế nhà nước, tức Nhà nước nắm 100% vốn. Các hình thức sở hữu hỗn hợp có thể là thành phần kinh tế tư bản tư nhân (vốn hỗn hợp giữa nước ngoài và tư nhân) hoặc là thành phần kinh tế tư bản nhà nước (vốn hỗn hợp giữa nước ngoài và nhà nước). Thực tế, hai khái niệm “doanh nghiệp nhà nước” và “doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài” được quy định rất mờ nhạt trong Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư. Thuật ngữ hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng quyền chọn Luật Thương mại 2005 quy định hợp đồng qua sở giao dịch hàng hóa bao gồm hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng quyền chọn. Nhưng thông lệ quốc tế phân biệt cụ thể hơn: hợp đồng tương lai (Futures Contract), hợp đồng kỳ hạn (Forward Contract) và hợp đồng quyền chọn (Option Contract). Hợp đồng tương lai được thỏa thuận và mua bán thông qua người môi giới, được mua bán trên thị trường tập trung và được tính hàng ngày theo giá thị trường. Hợp đồng kỳ hạn được thỏa thuận trực tiếp giữa hai bên giao dịch, trên thị trường phi tập trung và được thanh toán vào ngày đáo hạn. Thống kê của thế giới chỉ 1-5% số hợp đồng tương lai trên thị trường thực sự được giao dịch (diễn ra việc giao hàng giữa các bên), còn lại hầu như chỉ diễn ra sự thanh toán lãi lỗ giữa các bên. Ngược lại, hầu hết mọi hợp đồng kỳ hạn đều diễn ra việc giao hàng thực sự giữa các bên. Theo giải thích của Luật Thương mại 2005 thì hợp đồng kỳ hạn là thỏa thuận giữa bên mua và bên bán nhưng lại được thực hiện qua sở giao dịch hàng hóa, khái niệm này là sự kết hợp lẫn lộn giữa hai hợp đồng phổ biến theo thông lệ quốc tế. Luật Thương mại 2005 không có quy định về hợp đồng tương lai, chỉ có hợp đồng quyền chọn nhưng quy định về hợp đồng quyền chọn còn rất thiếu và chưa nêu rõ bản chất của loại hợp đồng này. Mục đích của hợp đồng quyền chọn là ngăn ngừa rủi ro và kinh doanh chênh lệch giá, do vậy, nó hoặc là một phần của hợp đồng tương lai hoặc là một công cụ tài chính phái sinh, cần bổ sung quy định chặt chẽ và đúng bản chất của loại hợp đồng này. Thực tế, quy định Sở Giao dịch hàng hóa Việt Nam (VNX) về các loại hợp đồng (quy chế giao dịch hàng hóa theo phương thức báo giá, ban hành kèm theo Quyết định số 53/2011/QĐ-VNX ngày 28-10-2011) đã bổ sung thêm định nghĩa hợp đồng tương lai, một loại hợp đồng không có trong Luật Thương mại 2005! Thị trường giao dịch hàng hóa thông qua các sở giao dịch sẽ ngày càng phát triển ở nước ta, những quy định chặt chẽ sẽ đảm bảo hạn chế những rắc rối phát sinh trong quá trình vận hành thị trường này. Vì vậy, người viết thống nhất với ý kiến của ban soạn thảo đề nghị sửa khái niệm hợp đồng kỳ hạn thành hợp đồng tương lai để phù hợp với thông lệ quốc tế và bổ sung các quy định về hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng quyền chọn. Theo: thesaigontimes.vn
TƯ VẤN PHÁP LUẬT - tu van phap luat - TƯ VẤN PHÁP LUẬT THƯỜNG XUYÊN CHO DOANH NGHIỆP
Nhằm đem đến cho các doanh nghiệp dịch vụ tư vấn pháp luật thường xuyên chuyên nghiệp, hoàn hảo và hiệu quả nhất. Luật Hồng Đức cung cấp Dịch vụ tư vấn pháp luật thường xuyên cho các doanh nghiệp trong các lĩnh vực pháp luật kinh doanh, thủ tục hành chính, thuế, tài chính, quản trị doanh nghiệp, lao động, sở hữu trí tuệ, pháp luật đầu tư  thông qua việc ký hợp đồng tư vấn pháp luật  thường xuyên.