Menu

Giải quyết tranh chấp

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ

trong LUẬT SƯ TRANH TỤNG
LUẬT SƯ TRANH TỤNG - luat su tranh tung - GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ
Giải quyết tranh chấp kinh tế: cung cấp dịch vụ tư vấn giải quyết tranh chấp kinh tế bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng. Nội dung dịch vụ tư vấn giải quyết tranh chấp kinh tế: - Đại diện cho doanh nghiệp, thân chủ tiếp xúc với các bên liên quan để đàm phán, thuyết phục nhằm giải quyết tranh chấp kinh tế: tranh chấp hợp đồng kinh tế, tranh chấp nội bộ công ty giữa các cổ đông, thành viên với Công ty, các tranh chấp kinh tế khác... - Tư vấn luật định hướng đàm phán, giải quyết các tranh chấp kinh tế đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của thân chủ; - Cử luật sư tham gia giải quyết tranh chấp kinh tế, soạn thảo đơn kiện và các giấy tờ có liên quan, đại diện cho các cá nhân, tổ chức khởi kiện ra Toà án nhân dân và các cơ quan có thẩm quyền; - Đại diện cho các cá nhân, tổ chức tham gia trong quá trình thi hành án để yêu cầu cơ quan Thi hành án thi hành bản án có hiệu lực pháp luật của Toà án. Trân trọng

TRANH TỤNG VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP

trong LUẬT SƯ TRANH TỤNG
LUẬT SƯ TRANH TỤNG - luat su tranh tung - TRANH TỤNG VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
Tranh tụng và Giải quyết tranh chấp Kể từ khi Việt Nam chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế. Các luât đã được ban hành như: Luật Doanh nghiệp tư nhân 1990; Luật Công ty 1990; Luật Doanh nghiệp 1999, 2005; Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1996, 2000; Luật khuyến khích đầu tư trong nước 1998; Luật Đầu tư (2005) đã tạo điều kiện thuận lợi cho các thương nhân trong việc thành lập, quản lý, điều hành các doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh. Kinh tế phát triển kéo theo đó là các mối quan hệ trong hoạt động kinh doanh ngày càng đa dạng, phức tạp và các tranh chấp cũng phát sinh ngày càng nhiều. Các tranh chấp xuất phát phần vì do hệ thống văn bản pháp luật chưa thật sự hoàn thiện, phần vì các thương nhân khi tham gia đầu tư chưa thật sư am hiểu pháp luật và do cả mặt trái của nền kinh tế thị trường. Các tranh chấp thường gặp là: • Tranh chấp trong nội bộ công ty; • Tranh chấp hợp đồng kinh tế; • Tranh chấp trong lập, quản lý, sử dụng, chuyển nhượng đất đai; • Tranh chấp trong lao động; • Tranh chấp dân sự: các hợp đồng dân sự, di chúc, thừa kế … Để hạn chế và giải quyết các tranh chấp như thế nào là câu hỏi thường được các thương nhân đặt ra và tìm cách giải quyết. Bằng uy tín, trình độ và kinh nghiệm giải quyết các tranh chấp, các Luật sư Công ty luật Hồng Đức đã, đang và sẽ lỗ lực hết mình để đem lại các giải pháp nhằm giải quyết các tranh chấp một cách tốt nhất cho Quý Khách hàng với phương trâm “các bên cùng thắng”. Quý khách hàng có nhu cầu được tư vấn giải quyết tranh chấp, sử dụng dịch vụ vui lòng liên hệ với Công ty luật Yourlawyer Hongduc để được các Luật sư của Công ty tư vấn, đại diện tiến hành giải quyết tranh chấp.  
 -  - TÌM LUẬT SƯ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
Khi cần tìm Luật sư Giải quyết tranh chấp hay liên hệ với chúng tôi, với Dịch vụ luật sư tranh tụng là một trong những thế mạnh được khách hàng đánh giá cao của chúng tôi, với đội ngũ luật sư chuyên biệt về từng lĩnh vực và các cộng sự giàu kinh nghiệm, sự hiểu biết toàn diện và đầy đủ về pháp luật Việt Nam, Công ty Luật Yourlawyer Hongduc nhận cung cấp dịch vụ luật sư giải quyết tranh chấp cho khách hàng trong các lĩnh vực: - Dân sự: Tranh tụng bảo vệ quyền lợi của đương sự trong các tranh chấp tại Tòa án, các thủ tục thừa kế lập di chúc, tư vấn ly hôn, … - Kinh tế, Doanh nghiệp: Tư vấn pháp luật thường xuyên cho doanh nghiệp, tranh tụng bảo vệ quyền lợi của đương sự trong các tranh chấp kinh tế, thu hồi nợ, tư vấn soạn thảo hợp đồng... - Đất đai: Tư vấn, bảo vệ quyền lợi của đương sự trong các tranh chấp đất đai, hỗ trợ các thủ tục hợp thức hóa, mua bán, tặng cho, … - Lao động: Tư vấn luật cho người lao động, người sử dụng lao động; Soạn thảo hợp đồng, nội quy, quy chế lao động, thoả ước lao động tập thể; Tư vấn giải quyết các tranh chấp lao động; Xin giấy phép lao động cho người nước ngoài Xem chúng tôi tại google maps
 -  - Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thương mại Việt Nam
Hiện nay, khi soạn thảo các điều khoản về giải quyết tranh chấp trong Hợp đồng thương mại, các bên trong quan hệ giao dịch thường quy định việc giải quyết tranh chấp bằng phương thức Trọng tài thương mại, đặc biệt là khi quan hệ giao dịch này có yếu tố nước ngoài. Từ khi Chính phủ nỗ lực hoàn chỉnh khung pháp lý cho hoạt động Trọng tài bằng việc ban hành Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003, việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại đã thực sự chuyển biến và mang lại các dấu hiệu tích cực, từ việc mở rộng phạm vi hoạt động và quyền hạn của các Trung tâm Trọng tài (sau đây gọi tắt là TTTT) đến sự quan tâm thực sự từ các cá nhân và tổ chức kinh doanh trong mọi lĩnh vực. Trong phạm vi bài viết này, tác giả muốn trình bày các quy định của pháp luật, các góc nhìn thực tế và quan điểm mang tính định hướng về Trọng tài thương mại tại Việt Nam hiện nay qua 3 phần của bài viết: (i) Thẩm quyền trọng tài bắt đầu từ thỏa thuận. (ii) Kỹ thuật nhận biết hạn chế và giải pháp. (iii) Lựa chọn Trung tâm Trọng tài tại Việt Nam. PHẦN I: THẨM QUYỀN TRỌNG TÀI BẮT ĐẦU TỪ THỎA THUẬN CỦA CÁC BÊN Theo quy định tại Pháp lệnh cũng như từ kết luận thực tế, Trọng tài chỉ có thẩm quyền xét xử nếu giữa các bên tồn tại một thỏa thuận chọn Trọng tài để giải quyết tranh chấp, phải một thỏa thuận trọng tài cụ thể, rõ ràng và theo đúng quy định của Pháp luật và Quy tắc tố tụng Trọng tài của TTTT. 1. Về vấn đề thẩm quyền của Trọng tài thương mại tại Việt Nam Để giải quyết tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng, tổ chức và cá nhân kinh doanh phải có thỏa thuận với nhau một điều khoản về chọn Trọng tài, chọn TTTT hoặc Trọng tài viên của TTTT để giải quyết. Tuy nhiên, nếu đã có thỏa thuận trọng tài nhưng thỏa thuận trọng tài không có giá trị pháp lý thì Trọng tài cũng không có thẩm quyền giải quyết, khi đó nếu Trọng tài (cụ thể là TTTT/Trọng tài viên) vẫn tiến hành giải quyết trong trường hợp này, quyết định trọng tài đó sẽ bị hủy. Một khi không có thỏa thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu thì Toà án có quyền ra quyết định hủy quyết định trọng tài nếu bên yêu cầu chứng minh được rằng Hội đồng Trọng tài đã ra quyết định trọng tài thuộc một trong hai trường hợp này. Từ phân tích đó, có thể khẳng định rằng, thỏa thuận trọng tài được xem là vấn đề then chốt và có vai trò quyết định đối với việc áp dụng Trọng tài như một phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, hay nói cách khác không có thỏa thuận trọng tài thì không có việc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài. Thỏa thuận trọng tài có thể là (i) điều khoản về giải quyết tranh chấp đã được ghi trong hợp đồng hoặc (ii) thỏa thuận riêng, có thể là một Phụ lục đính kèm tại thời điểm ký Hợp đồng hoặc được các bên ký kết sau khi phát sinh tranh chấp. Thời điểm thỏa thuận về giải quyết trọng tài như vậy, theo tác giả, là rất thoáng và linh hoạt cho các bên khi lực chọn, cho nên các bên chỉ cần quan tâm vấn đề là nội dung của điều khoản này là như thế nào cho đúng quy định thì việc giải quyết sẽ được thực hiện tại TTTT đó. Thực tế, để tránh những rắc rối phát sinh khi xảy ra tranh chấp, các bên nên lập điều khoản trọng tài mà các TTTT khuyến khích, tạm gọi là các Điều khoản mẫu (model clauses) mà các Trung tâm Trọng tài thường ghi trên website hay trong các giới thiệu của mình. Cụ thể hơn, các bên có thể thỏa thuận cơ bản rằng “Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng này sẽ được giải quyết chung thẩm tại [tên của TTTT]” (All disputes originated from this contract shall be setted by [name of Arbitration Center]). Các bên liên quan cũng cần chú ý đến hiệu lực của Thỏa thuận trọng tài, để thỏa thuận này ràng buộc các bên cũng như ràng buộc các cơ quan tố tụng thì tại thời điểm có tranh chấp, thỏa thuận này phải còn giá trị pháp lý. Qua TTTT, tác giả được biết rằng vẫn có nhiều trường hợp các bên đã có thỏa thuận trọng tài nhưng thỏa thuận này không còn giá trị nữa khi có tranh chấp mà đến khi TTTT từ chối giải quyết thì các bên mới biết. Có thể hình dung qua một trường hợp cụ thể, rằng các bên đã có thỏa thuận tại Hợp Đồng nhưng tại Phụ lục lại lựa chọn Tòa án giải quyết hoặc tại thời điểm các bên ghi lời khai khi Tòa án thụ lý giải quyết vụ kiện; rằng chọn Tòa án, khi đó, theo quy định của Bộ luật Tố Tụng Dân Sự hiện hành, vụ kiện không thuộc thẩm quyền của Trọng tài mà thuộc về Tòa án. Điều đó có nghĩa là, thỏa thuận Trọng tài nên quy định thật rõ ràng. 2. Các góc nhìn pháp lý Theo quy định tại Pháp lệnh thì thỏa thuận Trọng tài chỉ có giá trị pháp lý đối với các tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại theo sự thỏa thuận của các bên. Theo đó, các hoạt động thương mại sẽ bao gồm nhưng không giới hạn các ngành nghề được liệt kê sau đây theo quy định của Pháp lệnh, đó là hành vi thương mại nào mà một bên là cá nhân/tổ chức thực hiện như mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, phân phối, đại diện, đại lý, ký gửi, thuê, xây dựng, tư vấn, kỹ thuật; li-xăng, đầu tư, tài chính – ngân hàng, bảo hiểm… Nó bao gồm nhưng không giới hạn bởi lẽ Pháp lệnh này còn gắn thêm một câu mà xem như việc liệt kê xem các hành vi trên là không có ý nghĩa, đó là Trọng tài còn giải quyết “các hành vi thương mại khác theo quy định của pháp luật”. Điều đó có nghĩa rằng, bất cứ hoạt động thương mại nào theo quy định của pháp luật chung, các bên có thể bắt đầu định hướng việc giải quyết tranh chấp bằng việc ký kết hợp đồng có điều khoản về thỏa thuận trọng tài. Vấn đề tiếp theo là năng lực và thẩm quyền ký kết của các bên, pháp luật chỉ quy định khi một bên ký kết thỏa thuận Trọng tài không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ thì thỏa thuận trọng tài vô hiệu. Cho dù các cơ quan tài phán Việt Nam đang có những cách hiểu khác nhau về quy định “năng lực hành vi dân sự” và “năng lực pháp luật dân sự” trong trường hợp này. Vấn đề đặt ra là nếu trường hợp một bên không có năng lực dân sự, ví dụ như khi xảy ra tranh chấp bên đi kiện không chứng minh được sự tồn tại của bên kia (có thể bị Trọng tài/Tòa án xem là không tồn tại) thì thỏa thuận trọng tài có vô hiệu hay không, ở đây, pháp lệnh không nêu rõ. Điều đó có nghĩa là, có thể trong trường hợp này TTTT/Tòa án sẽ xác định một bên xác lập thỏa thuận không hiện hữu nên thỏa thuận Trọng tài sẽ bị coi là không có giá trị pháp lý. Từ thực tế và xét trong mối tương quan với quy định trên, tác giả muốn định hướng rằng, đối với những đối tác lớn, có uy tín trên thương trường thì có thể thỏa thuận giải quyết bằng trọng tài thương mại; còn đối với các đối tác ban đầu, quy mô kinh doanh và sự ổn định pháp lý chưa rõ ràng thì nên chăng cần phải xem xét kỹ có nên thỏa thuận giải quyết bằng trọng tài hay không. Người ký thỏa thuận trọng tài không có thẩm quyền ký kết theo quy định của pháp luật có thể dẫn đến hợp đồng bị vô hiệu. Hiện nay việc ký kết hợp đồng không phải lúc nào cũng do những người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, mà có thể là bất kỳ người đại diện theo ủy quyền hoặc thậm chí là trưởng một bộ phận nghiệp vụ thực hiện việc ký kết. Thế thì thỏa thuận Trọng tài theo Hợp đồng do những người được ủy quyền này có bị xem là vô hiệu hay không? Kết quả từ thực tế là tùy vào quan điểm và các nhìn nhận của các TTTT/Tòa án. Khi xác lập thỏa thuận Trọng tài, các bên nên thỏa thuận rõ ràng về đối tượng tranh chấp hay tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp, nếu phát hiện thấy có vấn đề chưa rõ ràng hoặc sai lệch thì phải thỏa thuận bổ sung nếu không thì thỏa thuận có thể bị xem là vô hiệu và/hoặc Trọng tài không có thẩm quyền xét xử. Theo đó, các bên không nên thỏa thuận chung chung như “nếu có tranh chấp sẽ nhờ trọng tài Việt Nam giải quyết” hoặc ghi sai tên của TTTT. Cho dù, trên thực tế việc xác định thỏa thuận trọng tài tùy thuộc vào quan điểm của các TTTT/Tòa án. Tuy nhiên theo định hướng của tác giả bài viết, các bên khi thỏa thuận điều khoản chọn TTTT không nên để rơi vào tình trạng ghi sai tên hoặc ghi không rõ ràng tên TTTT, để tránh rắc rối phát sinh. (Vấn đề sẽ được trình bày thêm ở Phần III của bài viết này). Các bên liên quan cũng cần biết một quy định đặc thù về giải quyết bằng trọng tài tại Việt Nam là việc thay đổi, gia hạn, hủy bỏ hợp đồng, sự vô hiệu của hợp đồng khôngảnh hưởng đến hiệu lực của điều khoản trọng tài. Tức là, bất kỳ thay đổi về hợp đồng mà việc giải quyết tranh chấp đã được các bên thỏa thuận bằng phương thức trọng tài sẽ không làm ảnh hưởng đến thỏa thuận trọng tài, và Trọng tài hoàn toàn có thể giải quyết quyền lợi của các bên khi hợp đồng vô hiệu hoặc các điều khoản khác vô hiệu. Để kết lại các góc nhìn pháp lý về thỏa thuận trọng tài, cần lưu ý là việc Trọng tài có thẩm quyền không phủ nhận hoàn toàn vai trò của Tòa án bởi dù sao Trọng tài cũng chỉ là là một cơ quan phi Chính phủ nên vẫn cần có sự trợ giúp của Tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp thương mại. Điển hình nhất là trong việc đề nghị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, nếu quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại hoặc có nguy cơ trực tiếp bị xâm hại, thì các bên có quyền làm đơn đến Tòa án cấp tỉnh nơi Hội đồng Trọng tài thụ lý vụ tranh chấp yêu cầu áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời. Tuy nhiên, theo Pháp lệnh thì biện pháp này chỉ được tiến hành “trong quá trình Hội đồng Trọng tài giải quyết vụ tranh chấp”. Nếu Pháp lệnh không quy định khi Trọng tài chưa thụ lý thì các bên có thể yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hay không?! Hạn chế này đối với các bên trong thực tế sẽ phát sinh những vấn đề về quyền lợi như việc một bên có thể tẩu tán/cất giấu tài sản để tránh thi hành quyết định. Trong khi đó thỏa thuận ký kết ban đầu rất khó để các bên có thể lường trước và quy định cụ thể. Do vậy, trong khi chờ đợi Nhà nước có các quy định cụ thể hơn về giải pháp này, bên bị xâm hại nên khởi kiện ra Trọng tài sớm hơn, thậm chí tận dụng các khoảng thời gian thương lượng thực hiện đồng thời với việc yêu cầu Tòa án can thiệp. Mỗi phương thức giải quyết tranh chấp đều có những thuận lợi và hạn chế nhất định, vấn đề đặt ra là, nếu bạn là một trong các bên giao dịch thì bạn sẽ làm gì để tối thiểu hóa các hạn chế và định ra các giải pháp trong trường hợp có tranh chấp xảy ra trong giao thương?! PHẦN II: KỸ THUẬT NHẬN BIẾT HẠN CHẾ VÀ GIẢI PHÁP Có rất nhiều lý do để các bên có thể lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp (GQTC) bằng Trọng tài thương mại mà không muốn đưa vụ việc ra Tòa án sau khi không thể giải quyết bằng việc thương lượng, hòa giải. So với phương thức giải quyết bằng Trọng tài, việc đưa vụ việc ra Tòa án thực sự là giải pháp cuối cùng, như các cụ ta thường nói “vô phúc đáo tụng đình” mà các bên phải cân nhắc khi biết những phức tạp thực tế từ việc GQTC tại Tòa án; như là thủ tục kéo dài với nhiều cấp xét xử, sự công khai trong quá trình xét xử công khai và tốn rất nhiều thời gian và tiền bạc cho các bên. Đồng thời khi đó, quan hệ giao thương giữa các đối tác khó có thể gắn kết lại như lúc ban đầu. Trong khi đó, với việc Chính phủ từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý và sự tác động của cơ chế kinh tế thị trường đến các Trung tâm Trọng tài (TTTT), về lý thuyết sẽ mang lại các thuận lợi đó là: GQTC nhanh chóng, chính xác, ítảnh hưởng đến bí mật và uy tín kinh doanh, chi phí thấp hơn Tòa án và việc không đại diện cho quyền lực tư pháp nên rất thích hợp để giải quyết các tranh chấp có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên, việc GQTC bằng Trọng tài thương mại tại Việt Nam tính đến thời điểm hiện tại vẫn còn rất nhiều điểm hạn chế, mà thể hiện là 7 TTTT tại Việt Nam đang loay hoay tìm lối đi riêng hoặc trông chờ cào sự thay đổi trong cơ chế pháp lý. Trước hết, đó là hạn chế trong chính quy định về phạm vi áp dụng của phương thức, như đã trình bày tại phần 1 – Phạm vi GQTC của Trọng tài chỉ trong lĩnh vực tranh chấp thương mại. Cho dù khái niệm của lĩnh vực này theo quy định của pháp luật Việt Nam là khá rộng nhưng phần nào đây cũng có thể xem là hạn chế trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay. Được biết, Trọng tài ở các quốc gia khác có thẩm quyền giải quyết từ tranh chấp thương mại lẫn dân sự; điều này hợp lý bởi xuất phát của quan hệ thương mại là một phần trong quan hệ dân sự nên các các giao dịch thương mại nên để các bên tự định đoạt và quyết định, trong đó có quyền lựa chọn phương thức GQTC. Ngoài ra, trong hạn chế về phạm vi thẩm quyền của Trọng tài tại Việt Nam còn thể hiện ở vấn đề hạn chế yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời sau khi thụ lý hồ sơ, muốn thực hiện việc này phải thông qua Tòa án. Do vậy, cuối tháng 11/2009 vừa qua, các nhà làm luật Việt Nam đã đưa ra bàn thảo tại Quốc Hội về vấn đề việc mở rộng thẩm quyền và phạm vi thụ lý hồ sơ của Trọng tài, trong đó có các kiến nghị về việc bổ sung những nội dung cụ thể để bảo đảm việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời được thực hiện nhanh chóng, đảm bảo quyền lợi của bên đi kiện. Đây có thể xem là một bước đi tất yếu và các doanh nghiệp nên theo dõi và có những định hướng cho việc GQTC trong các giao thương của mình và đối tác. Thứ hai, các bên trong giao thương nên biết quy định về hủy quyết định trọng tài (QĐTT), đó là khi một bên không đồng ý với quyết định của TTTT, các bên có quyền yêu cầu Tòa án hủy QĐTT “trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được QĐTT”. Tuy nhiên, Tòa án chỉ có thẩm quyền hủy QĐTT chỉ khi nào việc tiến hành GQTC thương mại của TTTT/Trọng tài viên rơi vào một trong các trường hợp quy định. Ở đây có đến 06 căn cứ để các bên dựa vào để yêu cầu Tòa án ra quyết định hủy QĐTT như là: không có thỏa thuận Trọng tài hoặc thỏa thuận vô hiệu mà Hội đồng Trọng tài vẫn ra quyết định, chứng minh được Trọng tài viên vi phạm nghĩa vụ theo quy định, sai phạm về thẩm quyền hoặc thành phần của Hội đồng Trọng tài, nghĩa vụ của Trọng tài viên… Những căn cứ trên, theo quan điểm của tác giả, là những hạn chế của phương thức GQTC bằng con đường Trọng tài. Thực tế, bên không chấp nhận QĐTT có thể viện dẫn nhiều lý do để xin hủy QĐTT bởi thực chất phạm vi của các căn cứ là rất rộng; khi đó Tòa án buộc phải xem xét bằng việc kiểm tra thủ tục tố tụng Trọng tài chứ không xét lại nội dung vụ tranh chấp để ra quyết định có hủy hay là không. Do vậy, tùy theo từng vụ việc cụ thể, các đương sự trong tranh chấp phải xác định được con đường đi của phương thức này, nếu nhận thấy sự sai phạm (hoặc cố vấn pháp lý của doanh nghiệp mình cho rằng QĐTT có vấn đề) thì có thể yêu cầu tòa án hủy QĐTT để bảo vệ quyền lợi cho mình. Cũng xin được đề cập thêm rằng, khi QĐTT bị hủy thì có thể tiếp tục thỏa thuận việc giải quyết bằng Trọng tài hoặc đưa vụ việc ra Tòa án và thực tế là Tòa án luôn là nơi để các bên lựa chọn bởi trong trường hợp này, rất khó để các bên có thể cùng nhau đạt được một thỏa thuận nào nữa. Các doanh nghiệp khi xảy ra tranh chấp lúc này còn tính đến việc xem xét ngân sách cho việc kiện tụng và các hạn chế của giải quyết tại Tòa án như đã trình bày ở mở đầu của bài viết. Thứ ba, đó là vấn đề về Trọng tài viên mà việc lường trước những hạn chế có thể có sẽ là không thừa đối với các bên. Theo quy định thì các bên trong quá trình soạn thảo điều khoản thỏa thuận Trọng tài có thể thỏa thuận tên Trọng tài viên, cũng có cách khác là khi xảy ra tranh chấp các bên thống nhất làm một Phụ lục để chọn Trọng tài viên của TTTT, nhưng vấn đề này hơi khó vì khi đó các bên đã có tranh chấp, các bên có quyền nghi ngại đề nghị một của một bên trong việc chọn Trọng tài viên cụ thể. Thực tiễn khi các xem xét vụ việc, nếu các bên không thỏa thuận cụ thể thì Hội đồng Trọng tài do Chủ tịch TTTT chỉ định, khi đó việc GQTC sẽ phụ thuộc vào năng lực và quan điểm của Trọng tài viên. Tất nhiên việc chỉ định Trọng tài viên nào thì Chủ tịch TTTT cũng có cơ sở của mình, có thể đó là chuyên môn và/hoặc kinh nghiệm trong lĩnh vực tranh chấp. Tuy nhiên một khi việc giải quyết tranh chấp phụ thuộc vào ý thức chủ quan của một cá nhân thì các bên có quyền nghi ngại từ năng lực và/hoặc quan điểm cho đến kết quả giải quyết vụ việc của Trọng tài viên. Do vậy, nên chăng các bên khi giao kết hoặc khi chọn giải quyết bằng Trọng tài hãy thỏa thuận chọn một Trọng tài viên có chuyên môn về lĩnh vực đang tranh chấp, và tin tưởng vào quan điểm cũng như tính vô tư khách quan của Trọng tài viên đó. Thứ tư, đó là hạn chế về luật áp dụng trong giải quyết Trọng tài và cũng là cơ sở để cho rằng: việc giải quyết bằng Trọng tài hiện nay tại Việt Nam không thực sự tiến bộ hơn so với Tòa án. Điều này xuất phát từ ảnh hưởng của việc áp dụng luật Việt Nam của Tòa án để giải quyết, những Trọng tài viên am hiểu luật pháp Việt Nam, bằng những cách khác nhau đã hướng các bên tới áp dụng pháp luật Việt Nam trong GQTC thương mại. Hạn chế thể hiện rõ nhất là việc GQTC có yếu tố nước ngoài, phần lớn các tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài tính đến thời điểm hiện tại chủ yếu các tranh chấp có yếu tố nước ngoài; khi đó bên nước ngoài phải thuê Luật sư hoặc chuyên gia am hiểu lĩnh vực tranh chấp và pháp luật Việt Nam. Ngoài các chi phí các bên bỏ ra luôn bị các doanh nghiệp xem là hạn chế thì kết quả GQTC căn cứ vào luật nội dung của Pháp luật Việt Nam cũng khó để các bên tâm phục, khẩu phục. Hệ quả là sự phản ứng, như kiện lên các cơ quan tài phán quốc tế, kiện hủy QĐTT… Điều đó hoàn toàn không có lợi nếu không nói rằng sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển nền kinh tế Việt Nam nói chung và quan hệ giao thương giữa các doanh nhân tại Việt Nam nói riêng. Kết thúc vấn đề này, tác giả cho rằng muốn khắc phục những hạn chế của giải quyết tranh chấp Trọng tại tại Việt Nam trước hết phải bắt đầu bằng việc xác định lại và định hướng thay đổi tâm lý doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, những doanh nghiệp được điều hành bởi những con người mới nhưng chịu sức ép từ những điểm tồn cùa văn hóa truyền thống – nét văn hóa có cái gốc là văn hóa nông nghiệp và một cơ chế có thể nói là chưa được thông thoáng. Có thể đây cũng là xu thế tất yếu, có cầu ắt sẽ có cung, một khi doanh nghiệp ý thức được những lợi thế trong các con đường giải quyết tranh chấp thì cơ chế pháp lý sẽ thay đổi, chỉ khi đó các Trung tâm Trọng tài mới có thể chuyển mình mạnh mẽ trong các lối đi mới. SOURCE: SAGA.VN
 -  - Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài và cơ chế hỗ trợ của Tòa án
Trong bối cảnh Việt Nam đã gia nhập WTO và nền kinh tế nước ta đã chuyển sang mô hình phát triển theo thể chế thị trường, các tranh chấp kinh tế không những đơn thuần là tranh chấp giữa hai chủ thể giao kết hợp đồng kinh tế, mà còn có những tranh chấp dưới các dạng khác nhau phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh như tranh chấp giữa các thành viên trong công ty, tranh chấp về cổ phần, cổ phiếu, tranh chấp giữa công ty và các thành viên của công ty… Vậy, khi phát sinh tranh chấp thì doanh nghiệp cần tìm đến tổ chức nào để giải quyết một cách có hiệu quả, nhanh gọn, tránh những tổn thất quá lớn cho doanh nghiệp? Hiện nay, việc giải quyết các tranh chấp ở Việt Nam chủ yếu được xét xử thông qua hệ thống Toà án và Trung tâm trọng tài. Tuy nhiên, một vấn đề nhận thấy rõ ràng là hệ thống Toà án đã trở nên quá tải, dẫn đến tăng lượng vụ tồn đọng, không kịp giải quyết, do đó làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Theo thống kê của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC), trong khi Toà kinh tế Hà Nội trong năm 2007 phải xử gần 9.000 vụ án, trong đó có khoảng 300 vụ án kinh tế và Toà kinh tế thành phố Hồ Chí Minh phải xử gần 42.000 vụ án các loại, trong đó có 1.000 vụ án kinh tế, thì VIAC cũng chỉ tiếp nhận khoảng 30 vụ (1). Tính trung bình mỗi trọng tài viên của VIAC chỉ xử 0, 25 vụ một năm, trong khi mỗi thẩm phán Toà kinh tế Hà Nội phải xử trên 30 vụ một năm và mỗi thẩm phán ở Toà kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh xử trên 50 vụ một năm. Theo thống kê năm 2007 về giải quyết các vụ tranh chấp về dân sự, kinh doanh, thương mại và lao động, thì Toà án các tỉnh đã thụ lý 108.060 vụ; đã xử lý được 80.773 vụ. Ngoài ra, có 1.280 vụ được kháng cáo lên Toà án nhân dân tối cao. Những con số này ngoài việc cho thấy sự phổ biến việc xử lý các tranh chấp bằng Toà án còn cho thấy phần nào sự quá tải của hệ thống Toà án (2). Các tranh chấp giữa các bên Việt Nam và các bên nước ngoài vẫn tiếp tục được xét xử chủ yếu bằng trọng tài tại Trung tâm Trọng tài quốc tế Singapore (119 vụ), Hiệp hội Trọng tài Mỹ (621 vụ); Toà án Trọng tài Quốc tế bên cạnh Phòng Thương mại Quốc tế ICC (599 vụ); Hội đồng Trọng tài Thương mại và Kinh tế Trung Quốc (1.118 vụ); Trung tâm Trọng tài Quốc tế Hồng Kông (448 vụ)(3). 1. Trọng tài – một phương thức giải quyết tranh chấp ưu việt Theo luật pháp hiện hành của Việt Nam, việc giải quyết tranh chấp kinh tế được thực hiện bằng một trong hai con đường: Một là, giải quyết tại Toà án nhân dân theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hai là, giải quyết bằng trọng tài theo quy định của Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003; Nghị định số 25/2004/NĐ-CP của Chính phủ. Toà án là cơ quan xét xử của Nhà nước, nhân danh Nước CHXHCN Việt Nam quyết định đưa vụ tranh chấp ra xét xử theo trình tự tố tụng dân sự được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình tố tụng như vậy, đương nhiên là phải chặt chẽ, với nhiều thủ tục tố tụng rườm rà, thời gian kéo dài; xét xử công khai; án được tuyên không tuỳ thuộc ý chí các bên mà là kết quả nghị án của Hội đồng xét xử; án đã tuyên dù có quyền kháng cáo, nhưng “gỡ” được không phải dễ. Trong khi đó, trọng tài thương mại là một tổ chức phi chính phủ, chỉ nhận giải quyết các vụ tranh chấp khi các bên có thoả thuận bằng văn bản về việc chọn trọng tài. Quá trình giải quyết, được thực hiện theo nguyên tắc “phân xử trọng tài” phù hợp với quy định trong Pháp lệnh Trọng tài thương mại và quy chế của Tổ chức trọng tài mà các bên đã lựa chọn. Như vậy, có nhiều phương thức giải quyết tranh chấp ngoài con đường Toà án như thương lượng, trung gian, hoà giải… nhưng so với các phương thức giải quyết tranh chấp bằng Toà án thì việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài có một số ưu điểm như sau: Thứ nhất, tính chung thẩm và hiệu lực của quyết định trọng tài đối với việc giải quyết tranh chấp Việc giải quyết tranh chấp tại Trung tâm trọng tài thương mại có ưu điểm nổi bật so với Tòa án ở chỗ nhanh gọn, kín đáo và phán quyết của trọng tài là có giá trị chung thẩm, tức có hiệu lực cuối cùng. Trong khi Tòa án xử thì phải 2 – 3 lần, từ sơ thẩm đến phúc thẩm, rồi còn thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, rồi còn khiếu nại, khiếu kiện và còn có sự tham gia của nhiều cơ quan khác (như Viện kiểm sát…). Còn cách thức giải quyết bằng trọng tài lại hết sức đơn giản và linh động. Tính chung thẩm của quyết định trọng tài không chỉ có giá trị bắt buộc đối với các bên đương sự mà nó còn khiến các bên không thể chống án hay kháng cáo. Xét xử tại trọng tài chỉ có một cấp xét xử. Khi tuyên phán quyết xong, Uỷ ban Trọng tài (Hội đồng trọng tài) hoàn thành nhiệm vụ và chấm dứt sự tồn tại của mình. Những ưu điểm này đặc biệt quan trọng đối với hoạt động đầu tư thương mại. Chính những ưu điểm đó bảo đảm rằng nếu các bên ưu tiên giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thì các nhà đầu tư sẽ giảm rủi ro cho bên nước ngoài khi quyết định tham gia đầu tư thương mại tại Việt Nam; tạo thuận lợi cho các bên nước ngoài và cả bên Việt Nam thông qua việc giải quyết tranh chấp tại Việt Nam. Quyết định trọng tài được thực hiện ngay, đáp ứng yêu cầu khôi phục nhanh những tổn thất về tiền, hàng trong kinh doanh thương mại. Quyết định trọng tài là quyết định cuối cùng và có hiệu lực pháp luật, như bản án của Toà án. Tuy là chung thẩm, nhưng tố tụng trọng tài không đặt vấn đề cưỡng chế thi hành, nên bên đương sự nào không chấp nhận phán quyết của trọng tài thì có thể kiện ra Toà kinh tế theo thủ tục giải quyết các vụ án. Thứ hai, trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp bí mật Trọng tài là một tiến trình giải quyết tranh chấp có tính riêng biệt. Hầu hết pháp luật về trọng tài của các nước đều thừa nhận nguyên tắc trọng tài xử kín (in camera) nếu các bên không quy định khác. Tính bí mật thể hiện rõ ở nội dung tranh chấp và danh tính của các bên được giữ kín, đáp ứng nhu cầu tin cậy trong quan hệ thương mại. Điều đó có ý nghĩa lớn trong điều kiện cạnh tranh. Đây là ưu điểm đối với những doanh nghiệp không muốn các chi tiết trong vụ tranh chấp của mình bị đem ra công khai, tiết lộ trước Tòa án (hoặc công chúng) – điều mà các doanh nghiệp luôn coi là tối kỵ trong hoạt động kinh doanh của mình. Thứ ba, trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp liên tục Các bên đương sự được tự do lựa chọn trọng tài viên. Cách thức lựa chọn trọng tài và Hội đồng trọng tài phát huy tính dân chủ, khách quan trong quá trình tố tụng. Hoạt động trọng tài diễn ra liên tục vì Hội đồng trọng tài (Uỷ ban trọng tài) xét xử vụ kiện đã được các bên lựa chọn, hoặc được chỉ định để giải quyết vụ kiện đó. Khi mang một vụ việc ra xét xử ở Toà án, có khả năng thẩm phán được chỉ định giải quyết vụ việc không có trình độ chuyên môn liên quan đến đối tượng tranh chấp, đặc biệt các ngành có đặc thù chuyên môn cao như: dầu khí, xây dựng, tài chính, đầu tư, bảo hiểm… Khi giải quyết bằng trọng tài, các bên hoàn toàn có thể lựa chọn trọng tài viên có trình độ chuyên môn (4) phù hợp với đối tượng tranh chấp, góp phần nâng cao hiệu quả, công bằng và chính xác trong giải quyết tranh chấp. Trọng tài viên – người chủ trì phân xử tranh chấp theo suốt vụ kiện từ đầu đến cuối, vì vậy, họ có cơ hội tìm hiểu tình tiết vụ việc. Điều này có lợi ngay cả khi các bên muốn hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp thông qua đàm phán, trọng tài có thể hỗ trợ các bên đạt tới một thỏa thuận. Thứ tư, trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp mềm dẻo, nhanh chóng, linh hoạt cho các bên Tòa án, khi xét xử các bên hoàn toàn phụ thuộc vào sự chỉ đạo của Toà án về thủ tục, thời gian, địa điểm, cách thức xét xử… được quy định trước đó. Trong khi đó, với trọng tài, các bên thông thường được tự do lựa chọn thủ tục, thời gian, địa điểm phương thức giải quyết tranh chấp theo phương thức tiện lợi, nhanh chóng, hiệu quả nhất cho các bên trong khuôn khổ pháp luật cho phép. Điều này có thể làm giảm chi phí, thời gian và tăng hiệu quả cho quá trình giải quyết tranh chấp. Thứ năm, tiết kiệm thời gian Tính liên tục, đặc biệt trong hoạt động kinh doanh quốc tế đòi hỏi các bên không thể lãng phí thời gian, điều mà các Tòa án sẽ rất khó đáp ứng được do luôn phải giải quyết nhiều tranh chấp cùng một lúc, gây ra khả năng ách tắc hồ sơ. Giải quyết tranh chấp bằng Tòa án cho phép các bên được quyền kháng án cũng làm cho tiến độ bị kéo dài. Trong thực tế, giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, ví dụ như giải quyết tranh chấp bằng VIAC thường kéo dài tối đa là 6 tháng, còn tại Tòa án có thể kéo dài hàng năm trời. Thứ sáu, duy trì được quan hệ đối tác Việc thắng, thua trong tố tụng tại trọng tài kinh tế vẫn giữ được mối hoà khí lâu dài giữa các bên tranh chấp. Đây là điều kiện không làm mất đi quan hệ hợp tác kinh doanh giữa các đối tác. Bởi lẽ tố tụng tại trọng tài là tự nguyện. Xét xử bằng trọng tài sẽ làm giảm mức độ xung đột căng thẳng của những bất đồng trên cơ sở những câu hỏi gợi mở, trong một không gian kín đáo, nhẹ nhàng… Đó là những yếu tố tạo điều kiện để các bên duy trì được quan hệ đối tác, quan hệ thiện chí đối với nhau và đặc biệt, sự tự nguyện thi hành quyết định trọng tài của một bên sẽ làm cho bên kia có sự tin tưởng tốt hơn trong quan hệ làm ăn trong tương lai. Thứ bảy, trọng tài cho phép các bên sử dụng được kinh nghiệm của các chuyên gia Ưu điểm này thể hiện ở quyền được chọn trọng tài viên của các bên đương sự, điều mà không tồn tại ở Tòa án. Các bên có thể chọn một Hội đồng trọng tài dựa trên năng lực, sự hiểu biết vững vàng của họ về pháp luật thương mại quốc tế, về các lĩnh vực chuyên ngành có tính chuyên sâu như chứng khoán, licensing, leasing, xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ, sở hữu trí tuệ… Thứ tám, tuy là giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài – một tổ chức phi chính phủ, nhưng được hỗ trợ, bảo đảm về pháp lý của Toà án trên các mặt sau: Xác định giá trị pháp lý của thoả thuận trọng tàiX; giải quyết khiếu nại về thẩm quyền của Hội đồng trọng tài; ra lệnh áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; xét đơn yêu cầu huỷ quyết định trọng tài; công nhận và thi hành quyết định trọng tài. Trong quá trình giải quyết tranh chấp, nếu quyền và lợi ích của một bên bị xâm hại hoặc có nguy cơ xâm hại thì có quyền làm đơn yêu cầu Toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, nhằm: bảo toàn chứng cứ trong trường hợp chứng cứ bị tiêu huỷ hoặc có nguy cơ bị tiêu huỷ; kê biên tài sản tranh chấp để ngăn ngừa việc tẩu tán tài sản; cấm chuyển dịch tài sản tranh chấp; cấm thay đổi hiện trạng của tài sản tranh chấp; kê biên và niêm phong tài sản ở nơi gửi giữ; phong toả tài khoản tại ngân hàng. Việc đánh giá và sử dụng nguồn chứng cứ tại các cơ quan trọng tài rộng hơn, tự do hơn, mang tính xã hội hơn, tạo điều kiện cho các bên làm sáng tỏ những vấn đề nhạy cảm. Trong khi đó, Toà án áp dụng các chứng cứ để tố tụng bị ràng buộc hơn về mặt pháp lý, làm cho các bên tham gia tố tụng không có cơ hội làm sáng tỏ hết được nhiều vấn đề khúc mắc, không thể hiện trên các chứng cứ “pháp lý”. 2. Cơ chế hỗ trợ của Toà án đối với giải quyết tranh chấp bằng trọng tài – Thực trạng và nguyên nhân Sự ra đời của Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 (Pháp lệnh trọng tài) đã đánh dấu một bước tiến mới trong việc hình thành và hoàn thiện pháp luật về trọng tài tại Việt Nam, đáp ứng nhu cầu lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp của cộng đồng doanh nghiệp. Thực tiễn áp dụng Pháp lệnh trọng tài trong hơn 6 năm qua, tuy được đánh giá có nhiều điểm tiến bộ cùng với sự xuất hiện của nhiều nhân tố mới (như: Việt Nam đã là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới, với sự xuất hiện của các đạo luật mới như Luật Thương mại năm 2005, Luật Đầu tư năm 2005…), nhưng một số quy định của Pháp lệnh đã bộc lộ sự bất cập do một số nguyên nhân chủ yếu như: thẩm quyền của trọng tài còn nhiều hạn chế về phạm vi, chưa xác định cụ thể, rõ ràng, thống nhất và chắc chắn; đội ngũ trọng tài viên ở trong nước chưa phát triển, chưa đạt trình độ và uy tín bảo đảm sự tin cậy của các bên tranh chấp, nhất là các bên nước ngoài…. Bên cạnh đó, một trong những bất cập có ảnh hưởng trực tiếp tới hệ thống trọng tài Việt Nam là cơ chế hỗ trợ của Toà án đối với trọng tài chưa hiệu quả, đặt trọng tài vào vị trí bất lợi hơn nhiều so với Toà án liên quan đến một số vấn đề sau: 2.1 Vấn đề xem xét thoả thuận trọng tài, thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp của Hội đồng Trọng tài Theo quy định tại Điều 30, thì khi có khiếu nại của một bên về việc Hội đồng Trọng tài không có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp; vụ tranh chấp không có thoả thuận trọng tài hoặc thoả thuận trọng tài vô hiệu, Hội đồng Trọng tài phải xem xét, quyết định với sự có mặt của các bên, trừ trường hợp các bên có yêu cầu khác.Tuy nhiên, có một số vấn đề còn chưa rõ đó là trường hợp một bên khiếu nại về thẩm quyền của trọng tài ra Toà án theo Điều 30. Toà án xem xét và quyết định trọng tài có thẩm quyền. Sau đó, Hội đồng trọng tài giải quyết vụ tranh chấp và ra quyết định trọng tài. Vậy khi Hội đồng trọng tài đã ra Quyết định trọng tài thì các bên có quyền làm đơn yêu cầu Toà án huỷ Quyết định trọng tài không có thẩm quyền theo Điều 54 của Pháp lệnh hay không? Trong trường hợp chưa có Quyết định của Hội đồng trọng tài mà một bên khiếu nại ra Toà án về vấn đề thẩm quyền thì Hội đồng trọng tài có tiếp tục giải quyết vụ tranh chấp hay dừng việc giải quyết vụ tranh chấp? Như vậy, một là, có tranh chấp về “thẩm quyền” giữa trọng tài và Toà án trong giải quyết các vụ việc tranh chấp cụ thể cho dù các bên đã có thoả thuận trọng tài và trong trường hợp này, trọng tài chưa phải là phương thức giải quyết tranh chấp được ưu tiên áp dụng. Hai là, căn cứ vào điều kiện để Toà án tuyên huỷ phán quyết của trọng tài là dễ dàng, có phần tuỳ ý và ít tốn kém đối với bên “thua kiện”. Tiêu chí Toà án huỷ quyết định của trọng tài còn chưa rõ và rất dễ bị lạm dụng. 2.2 Về biện pháp khẩn cấp tạm thời Thứ nhất, Pháp lệnh Trọng tài đã xây dựng được chế định hết sức quan trọng và có ý nghĩa trong tố tụng trọng tài đó là quyền các bên tranh chấp được yêu cầu Toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Tuy nhiên quy định này vẫn có điểm chưa hợp lý. Điều 33 quy định “Trong quá trình Hội đồng trọng tài giải quyết vụ tranh chấp, nếu quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại hoặc có nguy cơ trực tiếp bị xâm hại thì các bên có quyền làm đơn đến Toà án cấp tỉnh nơi Hội đồng trọng tài thụ lý vụ tranh chấp yêu cầu áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời”. Theo quy định trên, nếu muốn áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, các bên phải chờ đến khi Hội đồng Trọng tài được thành lập. Tuy nhiên, nếu phải chờ đợi như vậy thì trong một số trường hợp, biện pháp này sẽ không còn ý nghĩa gì nữa. Do bản chất của biện pháp khẩn cấp tạm thời mang tính nhanh chóng, khẩn trương, kịp thời, nên biện pháp này phải được áp dụng ngay khi một bên thấy rằng quyền lợi hợp pháp của mình có nguy cơ bị xâm phạm, không nhất thiết phải chờ đợi đến khi khởi kiện hoặc Hội đồng trọng tài được thành lập. Thứ hai, Pháp lệnh Trọng tài chỉ giới hạn thẩm quyền của Toà án, nơi Hội đồng trọng tài thụ lý vụ tranh chấp mới có quyền ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Điều này có thể gây khó khăn cho cả Toà án và các bên trong quá trình áp dụng quy định này. Ví dụ khi các bên khởi kiện ra Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam, theo Pháp lệnh Trọng tài, nếu muốn áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì chỉ được phép làm đơn yêu cầu Toà án nhân dân Hà Nội ra lệnh áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Điều này chỉ hợp lý và thuận tiện khi cả hai bên đều có trụ sở tại Hà Nội hoặc đối tượng tài sản yêu cầu áp dụng đặt tại Hà Nội. Khi tài sản nằm ở địa bàn khác, nhất là trường hợp tài sản ở nước ngoài, mà yêu cầu Toà án Hà Nội ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời sẽ không khả thi và không hợp lý. 2.3 Vấn đề triệu tập nhân chứng Pháp lệnh Trọng tài không xác lập cơ chế hỗ trợ của Toà án đối với trọng tài trong việc thu thập chứng cứ và triệu tập nhân chứng. Đây là quy định quan trọng trong tố tụng trọng tài. Quá trình giải quyết tranh chấp không chỉ có các bên mà nhiều trường hợp có liên quan đến người thứ ba hoặc bên thứ ba. Trong khi Toà án có thẩm quyền đương nhiên trong việc triệu tập các đối tượng này thì trọng thì lại không có thẩm quyền. Vấn đề này, Luật Trọng tài các nước có quy định rất rõ Hội đồng trọng tài hoặc một bên được sự đồng ý của Hội đồng trọng tài có thể yêu cầu Toà án có thẩm quyền trợ giúp thu thập chứng cứ, triệu tập nhân chứng có mặt tại trọng tài. Do không có cơ chế hỗ trợ nêu trên, các luật sư và doanh nghiệp vẫn băn khoăn khi lựa chọn trọng tài Việt Nam để giải quyết tranh chấp. 2.4 Quy định về huỷ quyết định trọng tài Quy định về huỷ quyết định trọng tài còn nhiều bất cập. Một trong những nguyên nhân khiến cho cả số lượng quyết định trọng tài bị yêu cầu huỷ gia tăng đó là cơ chế huỷ quyết định trọng tài quá đơn giản. Điều 50 của Pháp lệnh quy định “Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định trọng tàiQ, nếu có bên không đồng ý với quyết định trọng tài thì có quyền làm đơn gửi Toà án cấp tỉnh nơi Hội đồng trọng tài ra quyết định trọng tài để yêu cầu huỷ quyết định trọng tài”. Tranh chấp là vấn đề phức tạp, khi các bên không thể tự giải quyết được mới đưa ra trọng tài để giải quyết. Do vậy, quyết định trọng tài khó có thể thoả mãn được cả hai bên. Trong khi đó, theo Pháp lệnh chỉ cần điều kiện “không đồng ý với quyết định trọng tài” thì có quyền làm đơn yêu cầu huỷ. Điều này vô hình trung đã khuyến khích các bên làm đơn yêu cầu huỷ quyết định trọng tài với nhiều mục đích khác nhau, đặc biệt là để kéo dài thời hạn thi hành quyết định trọng tài, để kịp tẩu tán tài sản. Một khi đưa đơn yêu cầu huỷ ra Toà án, thủ tục giải quyết đơn yêu cầu huỷ tại Toà án phải qua hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm, thời gian giải quyết tại Toà án cũng không xác định là bao lâu. Như vậy, nếu như các bên mong muốn được giải quyết tranh chấp bằng trọng tài do trọng tài có ưu điểm nhanh chóng, đơn giản thì thực tế các quy định của Pháp lệnh trọng tài lại không được như các bên mong đợi. Vấn đề này cần sớm được khắc phục để tránh sự lạm dụng một cách có chủ ý của các bên, nhất là bên thua kiện tại trọng tài. Nếu không sớm giải quyết, các quyết định trọng tài sẽ có nguy cơ trở thành các bản án sơ thẩm. 3. Giải pháp nâng cao cơ chế hỗ trợ của Toà án đối với giải quyết tranh chấp bằng trọng tài Thứ nhất, mở rộng, xác định rõ và cụ thể phạm vi thẩm quyền của trọng tài. Cụ thể, phạm vi thẩm quyền của trọng tài có thể bao gồm: i) Tất cả các tranh chấp dân sự, kinh tế và lao động đều có thể giải quyết bằng trọng tài, trừ một số ít các trường hợp được quy định cụ thể (5); ii) Các tranh chấp giữa cơ quan quản lý nhà nước và nhà đầu tư trong việc chuẩn bị đầu tư, thực hiện và quản lý dự án đầu tư, khuyến khích và ưu đãi đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam cũng có thể được giải quyết bằng trọng tài (6). Thứ hai, mở rộng tiêu chí xác định thoả thuận trọng tài. Cần phải làm rõ, đầy đủ cả hình thức và nội dung của thoả thuận trọng tài, bao quát hết các trường hợp thoả thuận của các bên về giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, bao gồm: i) Xác định rõ nội dung tối thiểu của thoả thuận trọng tài, là sự đồng ý của các bên về việc sử dụng trọng tài như một trong số các hình thức giải quyết tranh chấp, hoặc đồng ý chọn trọng tài để giải quyết tranh chấp; ii) Xác định rõ và cụ thể các trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu; iii), Xác định rõ và cụ thể các thoả thuận trọng tài không thể thực hiện được. Thứ ba, Hội đồng trọng tài là cơ quan duy nhất quyết định hiệu lực của thoả thuận trọng tài. Thứ tư, nếu các bên có tranh chấp về hiệu lực thoả thuận trọng tài (kể cả tranh chấp giữa các bên hoặc giữa một hoặc các bên với Trung tâm trọng tài) thì Toà án là nơi có quyền quyết định hiệu lực của thoả thuận trọng tài. Tuy nhiên, cần xác định rõ thẩm quyền của Toà án và hiệu lực của quyết định của Toà án trong trường hợp này. Thứ năm, xác định chặt chẽ, rõ ràng, hợp lý tiêu chí xác định Toà án có thẩm quyền đối với trọng tài theo hướng linh hoạt; đồng thời cần xác định rõ trong trường hợp nếu nhiều Toà án có thẩm quyền thì Trung tâm trọng tài có quyền lựa chọn một trong các Toà án đó và quy định rõ trách nhiệm hợp tác, phối hợp công việc của Toà án và không được quyền từ chối. Thứ sáu, cần quy định cụ thể, chi tiết “trách nhiệm của Toà án” trong việc thu thập chứng cứ, lưu giữ chứng cứ về hình thức và nội dung yêu cầu của trọng tài, cụ thể là (7) trong thời hạn cụ thể mà Toà án phải xem xét và chỉ định một thẩm phán có trách nhiệm thu thập chứng cứ; Toà án thông báo bằng văn bản về việc chỉ định thẩm phán. Đặc biệt phải xác định rõ trách nhiệm của Toà án trong việc bảo đảm sự có mặt của người làm chứng (8), xác định rõ trình tự thủ tục nhanh chóng, thuận tiện trong việc yêu cầu Toà án áp dụng các biện pháp khẩn cấp, tạm thời. Thứ bảy, xác định rõ các trường hợp Toà án có thể huỷ quyết định của trọng tài theo hướng hạn chế hơn việc huỷ quyết định trọng tài. Thứ tám, cho phép Hội đồng trọng tài được áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và trực tiếp yêu cầu cơ quan thi hành án hỗ trợ thực hiện biện pháp này. Thứ chín, tăng cường sự hỗ trợ của Cơ quan thi hành án đối với thực thi quyết định của trọng tài thông qua việc quy định rõ tiêu chí xác định cơ quan thi hành có liên quan. Thi hành đầy đủ, kịp thời và hiệu quả phán quyết trọng tài là một trong số các giải pháp cơ bản nâng cao độ tin cậy và tính hấp dẫn của trọng tài đối với các bên tranh chấp. Phán quyết trọng tài là chung thẩm, có hiệu lực kể từ ngày công bố. Các bên tranh chấp phải thừa nhận, tôn trọng và nghiêm túc thực hiện đầy đủ, kịp thời. Tuy vậy, trong trường hợp các bên không tự nguyện thi hành thì sự can thiệp và hỗ trợ kịp thời, có hiệu quả của Cơ quan thi hành án là không thể thiếu, để bảo đảm hiệu lực của phán quyết trọng tài. Với các giải pháp nâng cao cơ chế hỗ trợ của Toà án trong việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài nhằm mục tiêu xây dựng một hệ thống trọng tài có chất lượng, đáng tin tưởng sẽ “kéo” hoạt động giải quyết tranh chấp quay trở lại Việt Nam, góp phần thúc đẩy ngành trọng tài và xa hơn nữa, điều này có thể hấp dẫn những bên tranh chấp ngoài Việt Nam đến giải quyết tranh chấp tại Việt Nam. Việc khuyến khích giải quyết tranh chấp qua đường trọng tài cũng sẽ giảm tải gánh nặng về công việc cho hệ thống Toà án và góp phần nâng cao chất lượng và sự tin cậy đối với hệ thống Toà án. Tất cả điều này sẽ góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, tạo điều kiện thúc đẩy hơn nữa các hoạt động dân sự, thương mại, nhất là trong hoàn cảnh toàn cầu hoá như hiện nay. Thiết nghĩ, cần phải nâng Pháp lệnh Trọng tài thành Luật Trọng tài và ban hành Luật về Hoạt động của các tổ chức phi chính phủ. Có như vậy, mới tạo ra được những yếu tố bền vững đối với việc tổ chức và hoạt động của các tổ chức phi chính phủ. Mục tiêu quan trọng nhất của Luật Trọng tài là tạo một cơ chế giải quyết tranh chấp ngoài Toà án thuận lợi cho các bên, đặc biệt là các bên tham gia các hoạt động thương mại, đầu tư. Cụ thể hơn, mục tiêu của Luật Trọng tài nhằm khuyến khích việc giải quyết tranh chấp thông qua hệ thống trọng tài, qua đó giảm tải công việc cho hệ thống Toà án. Luật Trọng tài ban hành nhằm giảm tải khoảng 30% số lượng tranh chấp kinh tế cho Toà án, chuyển sang giải quyết thông qua hệ thống trọng tài vào năm 2015 (9). Trong thời gian tới khi Luật Trong tài có hiệu lực, việc giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài sẽ hứa hẹn một bước phát triển, trong những năm tới, đáp ứng được nhu cầu của các doanh nghiệp trong tranh chấp kinh tế. Chú thích: (1) VIAC có 140 trọng tài viên. Năm 2004 thụ lý 26 vụ; năm 2005 thụ lý 18 vụ; năm 2008 thụ lý 48 vụ. Tính trung bình mỗi năm số vụ việc giải quyết tăng khoảng 15. (2) Số liệu thống kê tình hình xét xử của Toà án ở 64 tỉnh thành phố giai đoạn 1/1/2007 đến 31/12/2007. (3) https://www.hkiac.org/HKIAC/HKIAC_English/main/html). (4) VIAC có danh sách Trọng tài viên gồm 123 người trong đó phân chia lĩnh vực chuyên môn của trọng tài viên như sau: chuyên gia pháp luật (52%); tài chính, ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm (12%); xây dựng cơ khí (7%), vận tải đường biển, đường hàng không, đường bộ (4,8%), sở hữu trí tuệ (3,1%), các lĩnh vực khác (18%). (5) Bao gồm: (i) tranh chấp liên quan đến quyền nhân thân, hôn nhân, gia đình và thừa kế được giải quyết theo quy định tương ứng của pháp luật dân sự; (ii) Giải quyết tranh chấp liên quan đến phá sản thực hiện theo quy định của pháp luật về phá sản; (iii) giải quyết tranh chấp liên quan đến vụ vi phạm pháp luật về cạnh tranh thực hiện theo quy định của pháp luật về khuyến khích cạnh tranh và kiểm soát độc quyền kinh doanh; về bảo vệ người tiêu dùng, về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; về các hợp đồng giao kết do bị ép buộc, bị lừa dối. (6) Đây là cụ thể hoá các quy định tương ứng Luật Đầu tư về giải quyết tranh chấp. (7) Điều 15 Dự thảo Luật Trọng tài quy định. (8) Dự thảo Luật Trọng tài: Khi có yêu cầu của một bên hoặc của Hội đồng trọng tài, Toà án có trách nhiệm tiến hành các biện pháp cần thiết bảo đảm sự có mặt của người làm chứng đúng như yêu cầu tại các phiên xét xử của trọng tài. (9) Báo cáo đánh giá tác động dự kiến của Luật Trọng tài thương mại. SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP ĐIỆN TỬ  
 -  - Quy tắc hòa giải trong tranh chấp quốc tế
Tranh chấp thương mại là tồn tại bình thường trong nền kinh tế hội nhập toàn cầu giữa các doanh nghiệp trong nước và quốc tế. Giải quyết các tranh chấp này, ngoài phán quyết của Toà án còn có các cơ quan khác như Trọng tài Kinh tế, nếu doanh nghiệp không hòa giải được với nhau.   Để giúp các doanh nghiệp Việt Nam giải quyết các tranh chấp thương mại khi họ không muốn đưa nhau ra tòa, Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (TTTT QTVN) đã ban hành bộ quy tắc hòa giải của TT này, áp dụng với các doanh nghiệp có nhu cầu hòa giải khi “gõ cửa” TT. Quy tắc gồm 20 điều có hiệu lực từ ngày 10.9.2007. Hiện nay trong các hoạt động thương mại, nhất là những hoạt động thương mại quốc tế ngày càng xuất hiện nhiều tranh chấp thương mại. Với doanh nghiệp (DN) hiện có ba con đường giải quyết tranh chấp. Thứ nhất, các bên tự thương lượng với nhau không có tác động của người thứ ba hay tổ chức thứ ba. Thực tế khi tự thương lượng thì có nhiều trường hợp không thành công. Đó là do xung đột lợi ích của các bên. Bên nào cũng muốn bảo vệ lợi ích của mình và cũng bảo vệ quan điểm và cách xử lý của mình cho nên thương lượng trực tiếp với nhau khó đạt kết quả. Vì vậy họ dùng cách giải quyết thứ hai là trung gian hoà giải. Đó là nhờ một người, một tổ chức thứ ba tham gia hoà giải. Người thứ ba thường nhìn nhận vấn đề một cách khách quan nhưng các bên lại phải thống nhất với nhau để lựa chọn một người hoặc một tổ chức nào đó đứng ra hoà giải. Người trung gian này có thể đưa ra những kiến nghị, những giải pháp để hai bên thống nhất. Khi người trung gian hoà giải không thành công thì đã đến hoạt động tài phán (xét xử). Và khi ấy, trọng tài hoặc toà án đưa ra những quyết định có giá trị bắt buộc các bên tranh chấp phải thực hiện. Hiện nay TTTTQTVN là tổ chức xét xử ở công đoạn thứ 3. Thế nhưng trên thực tế, con đường giải quyết tranh chấp bằng hoà giải được rất nhiều các doanh nhân, doanh nghiệp ưa chuộng; đặc biệt là trong các quan hệ giao dịch với quốc tế”. Quy tắc hoà giải được áp dụng trong trường hợp nào ? Nếu có tranh chấp xảy ra mà các bên muốn thông qua TTTTQTVN để tiến hành hoà giải tranh chấp cho mình thì họ có thể nhờ TTTTQTVN. Khi TTTTQTVN thực hiện hoà giải cho các bên thì sẽ áp dụng các quy định của Quy tắc hoà giải. Những ưu điểm tích cực của Quy tắc hoà giải  Khi đã có trung gian hoà giải thì mối quan hệ giữa các bên sẽ có sự thân thiện. Hình thức của nó cũng linh hoạt và mềm dẻo. Cách giải quyết của quy tắc sẽ khiến các bên gần gũi nên dễ trình bày quan điểm. Những hoà giải này nếu được thực hiện tốt thì sẽ rất nhanh chóng về thời gian và tiết kiệm được chi phí. Cho dù chi phí xét xử của TTTTQTVN đã rất thấp nhưng nếu tham gia hoà giải lại còn thấp hơn. Quy trình và thủ tục hoà giải cũng rất đơn giản. Khi có tranh chấp, một bên có thể gửi đơn yêu cầu hoà giải đến TTTTQTVN. Trên cơ sở đơn yêu cầu đó, TTTTQTVN sẽ gửi cho phía bên kia. Nếu bên được yêu cầu chấp nhận hoà giải thì sẽ có việc hoà giải và tiến hành theo Quy tắc hoà giải. Hoà giải viên có bắt buộc phải là người của TTTTQTVN? Hoà giải viên có thể là người do TTTTQTVN giới thiệu hoặc cũng có thể là do các bên thống nhất với nhau mời hoà giải viên bất kỳ nào đó ở bên ngoài và TTTTQTVN là đơn vị thực hiện quá trình hoà giải. Có thể có một hoà giải viên, cũng có thể có hai hoà giải viên do mỗi bên cử một người và nếu có ba hoà giải viên thì hai bên cùng thống nhất chọn một hoà giải viên thứ ba. Nhưng một khi đã thông qua TTTTQTVN thì phải theo Quy tắc hoà giải mà TTTTQTVN vừa ban hành. Hoà giải viên có thể chủ động gặp gỡ, trao đổi không phải thông qua các quy tắc cứng nhắc như ở toà án cho nên sẽ thuận lợi vì sự mềm dẻo để đạt mục đích hoà giải thành công. Vai trò của hoà giải viên trong một vụ hoà giải theo quy tắc của TTTTQTVN? Bằng nỗ lực của mình, hoà giải phải hành động một cách độc lập, vô tư và khách quan để giúp các bên đạt được giải pháp hoà giải cho tranh chấp; Hoà giải viên phải căn cứ vào thoả thuận của các bên, tập quán thương mại, thực tiễn kinh doanh giữa các bên, các bối cảnh liên quan tới tranh chấp để làm cơ sở cho việc hoà giải; Hoà giải viên có thể tiến hành quá trình hoà giải theo cách thức mà mình cho là phù hợp với bản chất, nội dung của vụ tranh chấp cũng như mong muốn của các bên. Hoà giải viên có thể, tại bất kỳ thời điểm nào của quá trình hoà giải, đưa ra đề xuất về giải quyết tranh chấp. Đề xuất đó không nhất thiết phải lập bằng văn bản và không cần phải kèm theo lý do. Phương thức giải quyết tranh chấp bằng hoà giải được các tổ chức, cá nhân kinh doanh lựa chọn vì nó có nhiều ưu điểm nhưng cũng có thể thấy cái khó nằm ở sự khởi đầu cuộc hoà giải? Điều đó phụ thuộc vào sự hợp tác của các bên với hoà giải viên. Các bên có trách nhiệm hợp tác với hoà giải viên, kể cả đáp ứng các yêu cầu của hoà giải viên về việc nộp các bản trình bày, các tài liệu có liên quan và tham dự các cuộc họp. Mỗi bên có thể chủ động hoặc theo đề nghị của hoà giải viên, gửi cho hoà giải viên đề xuất về phương án giải quyết tranh chấp. Khi xuất hiện những khả năng cho việc giải quyết tranh chấp có thể được cả hai bên chấp nhận thì hoà giải viên soạn thảo hoặc hỗ trợ các bên soạn thảo thoả thuận hoà giải. Bằng việc ký vào văn bản thoả thuận hoà giải, các bên kết thúc tranh chấp và bị ràng buộc bởi thoả thuận hoà giải đó theo các quy định của pháp luật dân sự. Khi đôi bên đã có sự “cởi mở” với nhau và với hoà giải viên thì vấn đề bảo mật sẽ ra sao? Để hoà giải đạt hiệu quả trên tinh thần thân thiện thì mỗi bên cần đưa ra đầy đủ những bằng chứng, chứng cớ, chứng lý pháp luật. Hoà giải viên có thể tuỳ gặp mỗi bên hoặc cùng các bên trong các cuộc thương lượng mang tính chất thân thiện. Hiểu được nhau thì mỗi bên sẽ nhận thấy mình phải làm gì để hoà giải đạt kết quả tốt đẹp. Tuy nhiên, đây là sự cởi mở với nhau chứ không phải là được phép làm lộ bí mật ra bên ngoài. Vì bảo mật là một điều của Quy tắc hoà giải. Theo đó “Hoà giải viên, TTTTQTVN và các bên phải giữ bí mật mọi vấn đề liên quan tới quá trình hoà giải, kể cả thoả thuận hoà giải”. Khi nào thì hoà giải chấm dứt và nếu có việc viện tới tố tụng thì sẽ giải quyết thế nào? Quá trình hoà giải sẽ chấm dứt vào ngày mà các bên ký vào văn bản thoả thuận hoà giải. Cũng có thể vào ngày công bố văn bản của hoà giải viên về việc không thể giải quyết vụ tranh chấp bằng hoà giải sau khi hoà giải viên đã nỗ lực hỗ trợ nhưng các bên không thể đạt được một thoả thuận hoà giải. Cũng có khi hoà giải chấm dứt khi một bên hoặc các bên gửi tới hoà giải viên yêu cầu chấm dứt hoà giải. Cũng có thể vào ngày một hoặc các bên đưa vụ tranh chấp đang là đối tượng của quá trình hoà giải ra kiện tại trọng tài hoặc tòa án. Trong quá trình hoà giải, các bên phải cam kết không tiến hành bất cứ tố tụng trọng tài hoặc tòa án nào đối với tranh chấp đang là đối tượng của quá trình hoà giải. Trong quá trình hoà giải, nếu một bên hoặc các bên đưa vụ tranh chấp đang là đối tượng của quá trình hoà giải ra kiện tại Trọng tài hoặc Tòa án thì việc hoà giải mặc nhiên bị coi là chấm dứt. Việc mỗi bên có thể “lợi dụng” việc biết về đối phương trong quá trình hoà giải để đưa ra kiện nhau ở cơ quan tài phán thì sao? Các bên phải ký cam kết, dưới bất cứ hình thức nào, không sử dụng làm căn cứ hay bằng chứng trong những vụ kiện tại bất kỳ cơ quan trọng tài hay tòa án nào mà nội dung vụ kiện liên quan đến tranh chấp là đối tượng của quá trình hoà giải: Băng ghi âm, ghi hình, ảnh chụp, bản ghi chép nội dung các cuộc tiếp xúc trong quá trình hòa giải; các quan điểm hoặc những đề nghị mà bên kia đưa ra về giải pháp cho tranh chấp; sự chấp nhận mà bên kia đưa ra trong quá trình hoà giải; những đề xuất mà hoà giải viên đưa ra; sự chấp nhận của một bên đối với đề xuất về giải quyết tranh chấp mà hoà giải viên đưa ra. Chi phí cho hoà giải sẽ được tính như thế nào? Chi phí hoà giải bao gồm: phí hành chính, một khoản thù lao hợp lý cho hoà giải viên, chi phí đi lại và các chi phí khác của hoà giải viên, các chi phí khác của nhân chứng theo yêu cầu của hoà giải viên với sự đồng ý của các bên; chi phí về tư vấn của các chuyên gia và chi phí phiên dịch…Cách thức nộp là bên nộp đơn yêu cầu hoà giải phải nộp tạm ứng 50% phí hoà giải. Khi chấp nhận hoà giải, bên nhận được yêu cầu hoà giải phải nộp tạm ứng 50% phí hoà giải. Trong trường hợp các bên cùng có đơn yêu cầu hoà giải gửi tới TTTTQTVN thì mỗi bên nộp 50% phí hoà giải. Trong quá trình hoà giải Sau khi chấm dứt quá trình hoà giải, TTTTQTVN sẽ tính toán chi phí trong số tiền đã ứng trước và trả lại cho các bên bất cứ khoản phí còn lại nào không chi tới. Liệu có chuyện hoà giải viên lại tham gia làm trọng tài viên, làm nhân chứng hay người đại diện tại toà án khi tranh chấp hoà giải bất thành, nếu việc này không triệt để thì sẽ phát sinh những lo ngại?  Trách nhiệm của hoà giải viên trong tố tụng tại trọng tài hoặc toà án đã được quy định rõ. Đó là: Trừ trường hợp các bên chấp thuận bằng văn bản, hoà giải viên sẽ không được làm trọng tài viên, hoặc làm người đại diện, nhân chứng hoặc luật sư của bất cứ bên nào trong vụ kiện tại trọng tài hoặc toà án mà nội dung vụ kiện là đối tượng của quá trình hoà giải mà mình đã tham gia. Những điểm nổi bật của việc hoà giải theo Quy tắc Những điểm nổi bật của việc hoà giải theo Quy tắc này là, các bên được quyền tự do lựa chọn hoà giải viên theo danh sách do Trung tâm giới thiệu hoặc người ngoài danh sách đó; các hoà giải viên phải tuân thủ nguyên tắc độc lập, vô tư, khách quan và phải tôn trọng thoả thuận của các bên cũng như tính tới tập quán thương mại, thực tiễn kinh doanh của các bên, các bối cảnh liên quan đến tranh chấp để tiến hành hoà giải; tính công khai thông tin giữa hoà giải viên với các bên; nghĩa vụ giữ bí mật của hoà giải viên và các bên đối với những tổ chức, cá nhân không liên quan; các bên và hoà giải viên được chủ động đề xuất phương án giải quyết tranh chấp; các bên cam kết không tiến hành bất cứ tố tụng trọng tài hoặc toà án nào đối với tranh chấp đang là đối tượng của quá trình hoà giải; khi hoà giải thành, các bên kết thúc tranh chấp và bị ràng buộc bởi thoả thuận hoà giải đã ký theo các quy định của pháp luật dân sự. Vì vậy, hầu hết các tổ chức trọng tài thương mại trên thế giới đều có Quy tắc hoà giải và tổ chức việc hoà giải nhằm giúp các tổ chức, cá nhân kinh doanh giải quyết tranh chấp một cách tốt đẹp và đạt hiệu quả cao.  Nguồn: internet
 -  - Tranh chấp vấn đề trọng tài và luật xét xử
Về mặt lý thuyết cũng như trên thực tế điều khoản trọng tài thông thường ngắn gọn vì nó chỉ xác định trước ý định của hai bên về việc gỉải quyết tranh chấp bằng trọng tài chứ chưa xác định được loại hình và bản chất của tranh chấp đó là gì. Thông thường, điều khoản trọng tài có vị trí như một điều khoản của hợp đồng thuê tàu nhưng nó độc lập với hợp đồng thuê tàu đó. Nó nằm trong hợp đồng thuê tàu và gắn liền với hợp đồng thuê tàu đó chứ không phải là nội dung của quan hệ trái vụ trong hợp đồng. Điều đó có ý nghĩa là thoả thuận trọng tài và quan hệ trái vụ được cam kết trong hợp đồng là hai quan hệ độc lập mặc dù có cùng cơ sởpháp lý là hợp đồng thuê tàu. Từ đó về mặt pháp lý, một số vấn đề liên quan đến giá trị pháp lý của điều khoản trọng tài được đặt ra như: Nếu nảy sinh những vấn đề liên quan đến sự tồn tại của điều khoản này thì tính hợp pháp của nó sẽ được pháp luật giải quyết ra sao? Trường hợp có vấn đề sẽ được sửa chữa như thế nào? Điều này phải dựa vào pháp luật trọng tài thương mại ở nơi xét xử để tìm câu trả lời. Đối với điều khoản trọng tài, vấn đề nghiêm trọng là ở chỗ nếu không cẩn thận với nó thì việc xử lý sẽ lâm vào chỗ bế tắc. Một số doanh nghiệp Việt Nam an tâm khi ký được một điều khoản trọng tài như sau "Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc có liên quan đến hợp đồng này trước hết sẽ được hai bên giải quyết bằng thương lượng. Nếu thương lượng không thành, tranh chấp sẽ được chuyển đến Trung Tâm Trọng Tài Quốc Tế Việt Nam (VIAC) xét xử theo Quy tắc về hoà giải và Trọng tài của Phòng Thương mại Quốc tếICC ở Paris". Họ yên tâm vì đã có một điều khoản chế tài và đã thắng lợi trong thương lượng nhằm đưa tranh chấp ra trọng tài Việt Nam và giải quyết tại Việt Nam. Tuy nhiên, việc chọn VIAC để xét xử nhưng lại áp dụng quy tắc tố tụng của toà án trọng tài thuộc ICC là điều bất hợp lý. Điều khoản này không thực hiện được vì quy tắc của ICC có một số quy định cơ bản không giống với quy định trong quy tắc của VIAC. Nếu áp dụng quy tắc ICC thì việc đầu tiên của nguyên đơn là phải nộp đơn kiện tới ban thư ký của trọng tài ICC, nộp phí đăng ký thụ lý vụ kiện cho ICC (theo quy tắc tố tụng của ICC). Điều đó cũng có nghĩa là mặc dù chọn VIAC để xét xử nhưng thực tế VIAC sẽ bị loại ra ngoài. Cũng tương tự như vậy, với một điều khoản rất chung chung với nội dung như sau: “mọi tranh chấp sẽ được giải quyết bởi trọng tài Việt Nam”. Điều khoản này có trong hợp đồng mà cũng như không có bởi lẽ: không quy định rõ hình thức trọng tài (trọng tài quy chế hay trọng tài Ad-Hoc), nếu trọng tài quy chế thì tổ chức nào (Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam, các tổ chức trọng tài kinh tế thuộc các tỉnh và thành phố của Việt Nam hay là một tổ chức trọng tài Quốc tế khác như ICC, SIAC, HKIAC,...). Quy định “tại Việt Nam” trên đây được hiểu là điểm xét xử của trọng tài mà thôi. Người ta hay gọi điều khoản trọng tài là điều khoản “nửa đêm” (Midnight Clause) vì cả ngày lo đấu giá về giá cước, thưởng phạt, thời gian làm hàng,...Mãi đến cuối cùng mới nhớ đến điều khoản trọng tài, đến lúc đó lại quy định qua quýt dẫn đến hậu quả là bế tắc không phương thức cứu chữa khi có tranh chấp xảy ra. Trường hợp sau đây có thể minh họa cho vấn đề này. Đầu năm 2000, Công ty TACC ở Việt Nam cho thương nhân nước ngoài Tsung thuê tàu LS chở lô hàng nông sản từ Việt Nam đi cảng Busan – Hàn Quốc. Hợp đồng thuê tàu quy định người thuê phải đảm bảo cầu cảng dỡ an toàn. Điều khoản trọng tài của hợp đồng ghi rõ: “Nếu có tranh chấp bằng trọng tài sẽ tiến hành ở Singapore và áp dụng luật Anh” (Arbitration in Singapore and English law to apply). Trên hành trình, khi tàu vào cảng ở Busan, chẳng may cầu bến không an toàn làm cho tàu thiệt hại tổng số tiền 12.000 USD. Chủ tàu lập tức bảo lưu khiếu nại và đòi Tsung bồi thường. Tsung trả lời qua quýt bằng fax nói mình không có lỗi gì cả và cuối cùng là im lặng. TACC cảnh báo nếu người thuê không có thiện chí thì chủ tàu sẽ đưa vụ kiện ra trọng tài Singapore. Tsung vẫn im lặng và TACC không làm được gì hơn vì hợp đồng không ghi rõ trọng tài nào ở Singapore. Rất tiếc là điều khoản trọng tài nói trên có trong hợp đồng mà coi như bằng không vì theo thông lệ Quốc tế (Điều 2 khoản 3 Công ước New York 1958), điều khoản trọng tài như trên gọi là điều khoản trọng tài không thể thực hiện được vì trong điều khoản này thiếu cả hai yếu tố cần thiết là tên, địa chỉ trọng tài đó và quy tắc tố tụng sẽ áp dụng để giải quyết. Qua vụ việc trên có thể nói rằng vấn đề lựa chọn và quy định tòa án giải quyết tranh chấp là không đơn giản. Rõ ràng trong trường hợp trên phía Việt Nam bị thiệt hại rất nhiều nhưng vẫn không được luật pháp bảo vệ hay không tìm được sự bảo đảm của pháp luật do những nguyên nhân cơ bản sau: - Điều khoản trọng tài và luật xét xử không rõ ràng. - Xem nhẹ và không hiểu được ý nghĩa pháp lý của việc lựa chọn cơ quan tài phán. - Chọn thẩm quyền xét xử là Tòa án một nước nhưng lại yêu cầu phải tuân thủ pháp luật của một nước khác. Chính vì vậy đã tạo ra một sự xung đột pháp luật, xung đột thẩm quyền tài phán ngay trong điều khoản trọng tài và luật xét xử của hợp đồng. Từ đó, bên có quyền lại bị mất quyền, có quyền nhưng không được pháp luật bảo vệ... Chính sự lựa chọn cơ quan tài phán một cách dễ dàng và không thận trọng đã tạo điều kiện cho những kẻ lừa gạt, vô trách nhiệm dùng các thủ đoạn tinh vi, trốn tránh trách nhiệm hoặc lợi dụng những khe hở của luật pháp để làm giàu bất chính trên sự tổn thất của người khác. Do đó, khi tham gia đàm phán ký kết hợp đồng, các doanh nghiệp phải thật thận trọng trong điều khoản trọng tài và luật xét xử để tự bảo vệ mình và trong bất kì trường hợp nào cũng được pháp luật bảo vệ chính đáng, không bị đối phương vô hiệu hóa bằng điều khoản này. Ngoài ra, vấn đề xác định thẩm quyền xét xử và giải quyết tranh chấp cũng là vấn đề phức tạp. Khi thụ lý một vụ kiện dân sự thương mại hàng hải có yếu tố nước ngoài, một trong những cơ sở pháp lý để tòa án mỗi nước xác định thẩm quyền xét xử của mình là phải xem xét xem bên nào đã thực thi quyền lực thực tế để khởi kiện (ví dụ bên nào đã xin bắt giữ tàu Thực tế ở Việt Nam đã có nhưng trường hợp khi xảy ra tranh chấp, các chủ thể nước ngoài không đồng ý giải quyết sự việc tại Việt Nam hay không chấp nhận lệnh trọng tài hoặc tòa án Việt Nam vì họ viện dẫn quy định của hợp đồng để lập luận. Cụ thể như sau: Cuối năm 1994, tàu IGDI của hãng tàu BLSC chở một số sắt thép đến Hải Phòng theo hợp đồng thuê tàu với người thuê tàu là công ty xuất khẩu X. Trước khi kết thúc việc dỡ hàng, chủ tàu đã phong tỏa và cầm giữ khoảng 370 tấn hàng không giao cho người nhận vì lý do họ chưa thu được cước của toàn bộ lô hàng mặc dù vận đơn ghi là "cước đã trả" . Là người mua và nhận hàng VINAMETAL đã trình bày rõ lô hàng được mua theo điều kiện CIF Hải Phòng, nghĩa vụ trả trước là của người bán chứ không phải họ. Chủ tàu vẫn bất chấp và không chịu giao hết hàng. VINAMETAL kiện lên Tòa án Hải Phòng để xin được giải tỏa hàng. Khi đó chủ tàu lập luận rằng nếu chủ hàng muốn kiện phải theo đúng hợp đồng thuê tàu và vận đơn là "Mọi tranh chấp liên quan đến hợp đồng thuê tàu này phải được xem xét và giải quyết bằng Trọng tài hàng hải Moscow theo luật Nga". Tòa án Hải Phòng đã bác bỏ lập luận này và ra quyết định cưỡng chế chủ tàu phải giao số hàng còn lại cho người nhận., vị trí hiện tại của tài sản đang tranh chấp, nơi xảy ra tổn thất...)   Tương tự, tháng 8/1995, tàu Asena treo cờ Panama của chủ tàu Kory Shipping chở hơn 21.000 tấn xi măng đóng bao từ Triều Tiên tới Đà Nẵng. Khi đến nơi, một số lượng lớn xi măng bị ướt do nước biển và nước mưa do tàu không đủ khả năng đi biển. Với tư cách chủ hàng và là người mua, Artexport đã thuê giám định và đòi chủ tàu bồi thường thích đáng. Chủ tàu lẩn tránh trách nhiệm và vì vậy chủ hàng khởi kiện tại tòa án Quảng Nam – Đà Nẵng yêu cầu bắt giữ tàu. Ngay lập tức, chủ tàu phản ứng vì cho rằng tòa án Việt Nam không có thẩm quyền xét xử vì vận đơn và hợp đồng thuê tàuđều quy định rằng mọi tranh chấp sẽ được xét xử tại trọng tài London theo Luật Anh. Do chủ tàu không chịu ký quỹ bảo lãnh tàu, tòa án Quảng Nam – Đà Nẵng đã cho bán đấu giá công khai tàu này và các bên đã được bù đắp thích đáng. Từ lý luận và thực tiễn trên, chúng ta cần khẳng định mặc dù vận đơn và hợp đồng thuê tàu không quy định quyền tài phán thuộc tòa án Việt Nam, song căn cứ vào pháp luật Việt Nam, nhất là Bộ luật Dân sự và Pháp lệnh thủ tục tố tụng dân sự, trọng tài và tòa án Việt Nam hoàn toàn có quyền xét xử các vụ kiện có nội dung tương tự. Điều này góp phần bảo vệ chính đáng các chủ hàng Việt Nam và bắt các chủ tàu nước ngoài phải tôn trọng pháp luật Việt Nam cũng như thông lệ Quốc tế...   Tóm lại, qua việc phân tích những tranh chấp phát sinh trong thực tế liên quan đến hợp đồng thuê tàu chuyến ở trên, chúng ta thấy rằng các tranh chấp có thể phát sinh từ gần như tất cả các khía cạnh của hợp đồng và do nhiều nguyên nhân khác nhau. Dù không thể thể hiện một cách bao quát và toàn diện vấn đề nhưng những phân tích trên phần nào đã thể hiện được thực trạng quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng thuê tàu chuyến ở nước ta cũng như trên thế giới. Chính từ thực trạng như vậy, việc tìm hiểu nhằm đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động trong ngành thương mại hàng hải là vấn đề rất quan trọng và cần thiết. Nguồn: internet
 -  - Luật sư giải quyết tranh chấp
  (i) Dịch vụ Luật sư Đại diện Pháp lý cho Doanh nghiệp trong và ngoài tố tụng trong các hoạt động đầu tư, kinh doanh; (ii) Luật sư Đại diện Pháp lý dàn xếp, thương lượng, hoà giải, giải quyết tranh chấp trong tổ chức, hoạt động của Doanh nghiệp trong hoạt động đầu tư, kinh doanh, tranh chấp nội bộ, tranh chấp cổ đông… (iii) Tư vấn pháp lý, nghiên cứu và phân tích tranh chấp về những lợi thế, bất lợi về pháp lý, nguy cơ và rủi ro, hoạch định chiến lược giải quyết, lộ trình và các biện pháp xử lý tranh chấp, áp dụng biện pháp cần thiết trước khi giải quyết tranh chấp; (iv) Dịch vụ Luật sư Đại diện thực hiện bảo vệ quyền lợi Doanh nghiệp, tham gia tố tụng tại Toà án hoặc Trọng tài; đại diện trung gian hòa giải, tham gia đàm phán, hòa giải và dàn xếp các tranh chấp ngoài tố tụng đặc biệt các tranh chấp đầu tư, kinh doanh cần có sự quản lý chặt chẽ những tình huống phức tạp liên quan tới yêu cầu từ nhiều phía và tham gia của nhiều bên; (v) Dịch vụ Luật sư Đại diện thực hiện hỗ trợ thi hành quyết định của Toà án, phán quyết Trọng tài cũng như các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; (vi) Dịch vụ Luật sư Đại diện Thường xuyên và vụ việc; Luật sư tư vấn và thực hiện các yêu cầu hệ thống Pháp chế Doanh nghiệp;   Lawyer in business area and resolving disputes (i) Legal representation lawyer for enterprises with or without litigation proceedings (ii) Legal representation lawyer to arrange, negotiate, mediation, disputes resolution within the organization and activities of enterprises such as investing, trading, internal disputation, shareholder disputations. (iii) Legal advice, research and analysis of disputes to find out legal advantages and disadvantages; threat and risk; planning strategy, roadmap and measures for settlement of disputes; apply a certain necessary measures before the settlement of disputes; (iv) Providing service of representative Lawyers to protect interests of enterprises and participate in court or arbitration proceedings; representatives as mediator; participate in negotiations, mediation and settlement of disputes outside litigation, specially proceedings of investment business Disputes need strict management of complex situations related to requests from many objects and participation of many parties; (v) Providing service of representative Lawyers did support or implementation of court decisions, arbitration decisions, as well as the State authorized agencies (vi) Providing service of regular or ad-hook representative Lawyers; Consult Lawyers and implement requirements from legal System of enterprises      

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG

trong LUẬT SƯ TRANH TỤNG
LUẬT SƯ TRANH TỤNG - luat su tranh tung - GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG
Hợp đồng  được kí kết giữa các bên trong hợp tác kinh doanh ngày càng trở nên phổ biến trong thời buổi kinh tế thị trường. Tuy nhiên sau khi kí kết hợp đồng, nếu các bên không tuân thủ theo các cam kết trong hợp đồng thì sẽ phát sinh tranh chấp.  Một trong những phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng là khởi kiện ra Tòa án theo thủ tục tố tụng. Đơn khởi kiện giải quyết tranh chấp hợp đồng là văn bản đầu tiên để các đương sự có thể trình bày nội dung vụ việc cũng như đưa ra các yêu cầu đề nghị toà án giải quyết.  

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI

trong LUẬT SƯ TRANH TỤNG
LUẬT SƯ TRANH TỤNG - luat su tranh tung - GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI
Giải quyết tranh chấp đất đai: Theo quy định của pháp luật về đất đai được thể hiện tại Luật đất đai năm 2003 và Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về thi hành luật đất đai, việc giải quyết tranh chấp đất đai được... Theo quy định của pháp luật về đất đai được thể hiện tại Luật đất đai năm 2003 và Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về thi hành luật đất đai, việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện theo quy trình như sau:             Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hoà giải được thì gửi đơn đến UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp.UBND cấp xã có trách nhiệm phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác để hoà giai quyet tranh chap dat dai. Thời hạn hoà giải là 30 ngày làm việc, kể từ ngày UBND cấp xã nhận được đơn. Sau khi hoà giải tại UBND cấp xã mà một bên hoặc các bên đương sự không nhất trí thì được giải quyết như sau:             - Tranh chấp về QSDĐ mà đương sự có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật đất đai và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Toà án nhân dân giải quyết;             - Tranh chấp đất đai trong trường hợp các bên tranh chấp không có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai thì được giải quyết như sau:             - Tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau: Thẩm quyền giải quyết lần đầu sẽ là Chủ tịch UBND cấp huyện. Nếu một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch UBND cấp tỉnh giải quyết; quyết định của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là quyết định giải quyết cuối cùng;             - Tranh chấp đất đai giữa tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài với nhau hoặc giữa tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư: Thẩm quyền giải quyết lần đầu sẽ là Chủ tịch UBND cấp tỉnh. Nếu một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường; quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường là quyết định giải quyết cuối cùng.  
LUẬT SƯ TRANH TỤNG - luat su tranh tung - GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN
Giải quyết tranh chấp thương mại tại Tòa án là một dịch vụ cao cấp của Yourlawyer.Hongduc, cung cấp dịch vụ tư vấn giải quyết tranh chấp kinh tế bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng. Nội dung dịch vụ tư vấn giải quyết tranh chấp kinh tế: - Đại diện cho doanh nghiệp, thân chủ tiếp xúc với các bên liên quan để đàm phán, thuyết phục nhằm giải quyết các tranh chấp kinh tế: tranh chấp hợp đồng kinh tế, tranh chấp nội bộ công ty giữa các cổ đông, thành viên với Công ty, các tranh chấp kinh tế khác... - Tư vấn định hướng đàm phán, giải quyết các tranh chấp kinh tế đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của thân chủ; - Cử luật sư tham gia giải quyết tranh chấp kinh tế, soạn thảo đơn kiện và các giấy tờ có liên quan, đại diện cho các cá nhân, tổ chức khởi kiện ra Toà án nhân dân và các cơ quan có thẩm quyền; - Đại diện cho các cá nhân, tổ chức tham gia trong quá trình thi hành án để yêu cầu cơ quan Thi hành án thi hành bản án có hiệu lực pháp luật của Toà án. Trân trọng

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG KINH DOANH

trong LUẬT SƯ TRANH TỤNG
LUẬT SƯ TRANH TỤNG - luat su tranh tung - GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG KINH DOANH
Giải quyết tranh chấp trong kinh doanh: Trong kinh doanh, nếu hai bên có xảy ra tranh chấp kinh tế  thì sẽ giải quyết bằng tòa án hay bằng trọng tài? Trong trường hợp nào thì tòa án được thẩm quyền giải quyết tranh chấp giữa hai doanh nghiệp? Trong kinh doanh, nếu hai bên có xảy ra tranh chấp kinh tế  thì sẽ giải quyết bằng tòa án hay bằng trọng tài? Trong trường hợp nào thì tòa án được thẩm quyền giải quyết tranh chấp giữa hai doanh nghiệp? Trường hợp nào thì thẩm quyền đó thuộc về trọng tài thương mại? Sao hầu như em chỉ thấy các doanh nghiệp thưa kiện lên tòa án thôi. Có phải là dùng trọng tài thương mại phức tạp quá nên các doanh nghiệp không thích? Tranh chấp kinh doanh - thương mại giưa cac doanh nghiệp Việt Nam đều có thể được một trong các bên lựa chọn hình thức trọng tài hay toà án giải quyết. Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết phụ thuộc vào thoả thuận của các bên. Tuy nhiên, không phải tranh chấp nào cũng được trọng tài giải quyết. Chỉ những tranh chấp mà trong hợp đồng các bên có thoả thuận trọng tài hoặc mặc dù trong hợp đồng các bên không thoả thuận nhưng trong tiến trình giải quyết tranh chấp trong kinh doanh (trước khi đưa đến Toà án) các bên có thống nhất thoả thuận trọng tài giải quyết thì khi đó cơ quan trọng tài có thẩm quyền giải quyết. Những trường hợp còn lại, Toà án đương nhiên có thẩm quyền giải quyết. Song, không phải cứ có thoả thuận trọng tài là cơ quan trọng tài đó có thẩm quyền giải quyết. Các thoả thuận trọng tài phải là hợp lệ, đúng pháp luật. Những trường hợp thoả thuận trọng tài không hợp pháp thì cơ quan Toà án sẽ có thẩm quyền giải quyết. Thực tiễn các tranh chấp kinh doanh - thương mại tại Việt Nam giữa các doanh nghiệp Việt Nam thường được giải quyết bằng con đường toà án vì những lý do sau: Một là: các bên không có thoả thuận trọng tài giải quyết trước hoặc trong quá trình phát sinh tranh chấp. Có khi có thoả thuận trọng tài nhưng điều khoản thoả thuận này vô hiệu. Hai là: Trước đây không có cơ chế bảo đảm thi hành phán quyết của trọng tài thương mại. Vì thế, các phán quyết này khi được ban hành không có hiệu lực thực tế. Các bên tranh chấp do đó lại phải mang đến cơ quan toà án giải quyết. Vì vậy, trong một thời gian dài, giải quyết tranh chấp thương mại bằng con đường trọng tài ở Việt Nam là không hiệu quả. Nhưng hiện nay, với sự ra đời của Bộ luật tố tụng dân sự thì cơ chế đảm bảo thi hành phán quyết trọng tài đã có hiệu lực. Nhờ đó, số lượng các tranh chấp giải quyết bằng con đường trọng tài ngày càng tăng do nó có những ưu điểm nhất định (thời gian, thủ tục, kinh tế,...) Ba là: Mặc dù đã có cơ chế bảo đảm thi hành nhưng tâm lý các doanh nghiệp Việt nam khi có tranh chấp vẫn ngại mang ra cơ quan trọng tài sau bao năm hoạt động ỳ trệ. Trong quá trình chúng tôi xét xử, thực tiễn có chỉ ra rằng nhiều doanh nghiệp không có văn hoá kinh doanh nên nếu đem tranh chấp ra cơ quan trọng tài giải quyết thì lại phải tiếp tục nhờ đến toà án can thiệp để bảo đảm cưỡng chế thi hành phán quyết, tốn kém tiền bạc và thời gian. Đó là lý do vì sao các tranh chấp kinh doanh - thương mại giữa các doanh nghiệp việt nam ít được giải quyết tại cơ quan trọng tài (rất khác lạ so với các nước tiên tiến trên thế giới). Nhưng qua nghiên cứu và theo dõi, tôi nhận thấy trong tương lai các doanh nghiệp sẽ lựa chọn trọng tài giải quyết nhiều hơn. Quý khách cần chúng tôi tư vấn giải quyết tranh chấp trong kinh doanh  vui lòng liên hệ chúng tôi    
Trang: 1 2