Menu

Tư vấn pháp luật thường xuyên

DỊCH VỤ TƯ VẤN PHÁP LUẬT

trong TƯ VẤN PHÁP LUẬT
TƯ VẤN PHÁP LUẬT - tu van phap luat - DỊCH VỤ TƯ VẤN PHÁP LUẬT
Ngày nay, khi kinh tế của đất nước ngày càng phát triển, các doanh nghiệp Việt Nam đã quan tâm hơn đến việc sử dụng dịch vụ tư vấn pháp lý trong doanh nghiệp nhưng thông thường ở trong tình trạng “mất bò mới lo làm chuồng” tức là khi có những vấn đề nảy sinh mới mời các Công ty Luật đến tư vấn để giải quyết những tranh chấp, khiếu kiện do vậy thường để lại cho Doanh nghiệp những hậu quả khôn lường cho Doanh nghiệp. Trước đây trong các Công ty lớn của nhà nước hay các công ty nước ngoài tại Việt Nam có riêng một ban pháp chế hay phòng pháp Luật hay chí ít là một chuyên viên pháp lý để xem xét các vấn đề pháp lý hoặc liên quan đến pháp lý. Tuy nhiên, chi phí để duy trì một cơ cấu như vậy không phải là nhỏ chưa kể là chưa làm thỏa mãn hết các nhu cầu của doanh nghiệp. Vì trên thực tế một luật sư không thể biết được hết tất cả các lĩnh vực để có thể tư vấn cho doanh nghiệp, do vậy vẫn cần phải sử dụng hoặc hợp tác với một công ty luật nào đó. Ngoài ra để duy trì một phòng pháp chế như thế thì chi phí không nhỏ. Khi ký Hợp đồng Tư vấn Pháp Luật Thường xuyên doanh nghiệp không phải mất chi phí lương và chỗ làm việc cho một luật sư mà vẫn được sử dụng dịch vụ tư vấn pháp lý từ văn phòng luật sư. Hơn nữa, một văn phòng luật sư thường có nhiều luật sư, tham gia nhiều vụ việc, từ đó có thể cung cấp một dịch vụ hoàn hảo hơn. Với việc xác định phương hướng hoạt động của Công ty “Hong Duc & Partners - Luật của doanh nghiệp”, Công ty Hong Duc & Partners là doanh nghiệp hoạt động Tư vấn Pháp luật chuyên sâu trong lĩnh vực doanh nghiệp khuyên các doanh nghiệp nên thực hiện phương trâm “Phòng bệnh hơn chữa bệnh”. Đó là việc các doanh nghiệp nên ký Hợp đồng tư vấn thường xuyên với một Công ty luật để được Tư vấn Pháp Luật Thường xuyên trong hoạt động kinh doanh của mình, phòng ngừa những rủi ro, tổn thất trong hoạt động kinh doanh do doanh nghiệp “mù luật”, không hiểu luật đảm bảo được tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp.

TƯ VẤN PHÁP LUẬT

trong TƯ VẤN PHÁP LUẬT
TƯ VẤN PHÁP LUẬT - tu van phap luat - TƯ VẤN PHÁP LUẬT
Tư vấn luật Công ty Luật Hong Duc & Partners là công ty tư vấn luật chuyên nghiệp. Chúng tôi chuyên cung cấp các dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp trong các lĩnh vực: doanh nghiệp, sở hữu trí tuệ, hợp đồng, tranh chấp thương mại. Với bề dày truyền thống, Công ty Luật Hong Duc & Partners luôn cam kết cung cấp cho khách hàng các dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp với chất lượng và độ tin cậy cao nhất cùng các giải pháp sáng tạo, toàn diện cho các vấn đề của doanh nghiệp... Các dịch vụ của chúng tôi: Tư vấn luật thường xuyên cho các doanh nghiệp Tư vấn soạn thảo hợp đồng Tư vấn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam Tư vấn thành lập doanh nghiệp Tư vấn bảo hiểm xã hội Tư vấn giấy phép lao động cho người nước ngoài Tư vấn bảo hộ nhãn hiệu, bản quyền Tư vấn chuyển giao công nghệ Tư vấn lập sàn giao dịch bất động sản Dịch thuật tài liệu Tư vấn vay vốn ngân hàng Tư vấn giấy phép icp, game online…vv Tư vấn pháp luật trong tất cả các lĩnh vực Giới thiệu chuyên viên kế toán tài chính cho các doanh nghiệp Giới thiệu luật sư tham gia tố tụng…...... Các dịch vụ nêu trên chúng tôi cung cấp cho khách hàng dưới hai hình thức: + Ký hợp đồng giữa quý khách hàng và Hong Duc & Partners cho từng vụ việc cụ thể. + Ký Hợp Đồng Tư Vấn Thường Xuyên, với hình thức này chúng tôi đóng vai trò là luật sư thường trực tư vấn các vấn đề pháp lý phát sinh hàng ngày trong hoạt động sản xuất kinh doanh của quý khách hàng một cách kịp thời và nhanh chóng, quý khách hàng vừa tận dụng được trí tuệ tập thể của đội ngũ các luật sư có kinh nghiệm và chuyên sâu trong tất cả các lĩnh vực pháp luật, vừa tiết kiệm được chi phí do được hưởng mức phí thấp nhất bởi tính ưu việt của hình thức cung cấp dịch vụ này mang lại.

TƯ VẤN PHÁP LUẬT THƯỜNG XUYÊN

trong TƯ VẤN PHÁP LUẬT
TƯ VẤN PHÁP LUẬT - tu van phap luat - TƯ VẤN PHÁP LUẬT THƯỜNG XUYÊN
Nhằm đem đến cho các doanh nghiệp dịch vụ tư vấn pháp luật thường xuyên chuyên nghiệp, hoàn hảo và hiệu quả nhất. Luật Hồng Đức cung cấp Dịch vụ tư vấn pháp luật thường xuyên cho các doanh nghiệp trong các lĩnh vực pháp luật kinh doanh, thủ tục hành chính, thuế, tài chính, quản trị doanh nghiệp, lao động, sở hữu trí tuệ, pháp luật đầu tư  thông qua việc ký hợp đồng tư vấn pháp luật  thường xuyên. Khi ký hợp đồng tư vấn thường xuyên với Luật Hồng Đức, doanh nghiệp sẽ được Luật Hồng Đức đảm bảo hỗ trợ, thẩm định về mặt pháp lý khi tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, Cụ thể là:   Tư vấn và trả lời mọi câu hỏi của doanh nghiệp về các vấn đề pháp lý liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (đặc biệt ưu tiên tư vấn qua hình thức trả lời bằng văn bản qua email);   Tư vấn về quản lý doanh nghiệp, xây dựng phát triển và bảo vệ thương hiệu nói riêng, quyền sở hữu trí tuệ nói chung;   Thường xuyên cung cấp các thông tin mới nhất có liên quan hoặc có khả năng tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.   Cung cấp danh mục văn bản luật mới có liên quan đến lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp định kỳ (tuần, tháng) qua email, fax, thư tín;    Hỗ trợ khách hàng tối đa để đảm bảo tính chuẩn mực pháp lý và có lợi nhất, an toàn nhất trong tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh (Kiểm tra tính hợp pháp của các văn bản do doanh nghiệp phát hành ra bên ngoài cũng như các tài liệu mà doanh nghiệp nhận được);   Dành thời gian 01 ngày làm việc trực tiếp tại doanh nghiệp đối với doanh nghiệp không ở tại địa bàn Hà Nội chi phí đi lại, ăn ở phía doanh nghiệp phải trả cho nhân viên tư vấn.   Dành ưu đãi 10 đến 20% giá trị Hợp đồng khi hai bên ký các hợp đồng tư vấn cho các công việc cần triển khai ngoài phạm vi của tư vấn pháp luật  thường xuyên. Vì sao khách hàng chọn dịch vụ của Luật Hồng Đức  Tư vấn pháp luật thường xuyên là một phương thức tiết kiệm hiệu quả nhất của Các Công ty Luật trên toàn thế giới. Vậy sự khác biệt giữa Tư vấn thường xuyên và luât sư Công ty ở điểm nào ? Thứ nhất Khi doanh nghiệp bạn có một vấn đề đặt ra bạn sẽ nhận được Luật sư công ty Ý kiến của một người  Tư vấn pháp luật thường xuyên  Ý kiến của một tập thể vidu: tại LHD là 25 người.    Thứ hai   Chi phí: Luật sư công ty Chi phí lớn = hiệu quả nhỏ  Tư vấn pháp luật thường xuyên  Chi phí nhỏ = hiệu quả lớn    Vậy sử dụng dịch vụ Tư vấn thường xuyên ở đâu là phù hợp và hiệu quả ? Thứ Ba: Với hệ thống văn phòng đặt tại TP.HCM, Hà Nội, Đà Nẵng, Vũng Tàu Công ty Luật Hồng Đức đảm bảo Luật sư kịp thời cung cấp cho quý khách hàng khi có vụ việc xảy ra. Trong thời gian hợp đồng, doanh nghiệp còn được huấn luyện, bổ túc các chuyên đề pháp lý cơ bản dành cho người quản lý (nếu có nhu cầu). Như  sau:   SOẠN THẢO HỢP ĐỒNG * Các vấn đề cơ bản của một giao dịch dân sự và hợp đồng thương mại. * Chủ thể, nội dung, hình thức… của một hợp đồng thương mại. * Các trường hợp vô hiệu của hợp đồng. MẪU HỢP ĐỒNG  * Hợp đồng mua bán hàng hóa. * Hợp đồng dịch vụ. * Hợp đồng đại lý. * Hợp đồng hợp tác kinh doanh. SOẠN THẢO HỢP ĐỒNG VĂN BẢN PHÁP LÝ * Quyết định của Giám đốc công ty. * Biên bản họp HĐQT, BGĐ … * Công văn gửi khách hàng, đối tác. * Thông cáo báo chí. LAO ĐỘNG XỬ LÝ VI PHẠM * Hồ sơ nhân sự & Hợp đồng lao động. * Qui tắc đạo đức kinh doanh. * Kiểm soát và bảo mật thông tin doanh nghiệp. * Qui trình xử lý kỷ luật lao động. * Sa thải và chấm dứt hợp đồng lao động. * Vụ án lao động. TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI * Qui trình, thủ tục giải quyết một vụ án kinh tế. * Hồ sơ khởi kiện. * Vấn đề chứng cứ, giám định. LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ * Nhãn hiệu hàng hóa, dịch vụ. * Quyền tác giả. * Hợp đồng chuyển giao công nghệ * Vấn đề hàng nhái, hàng giả. HÀNH CHÍNH GIẤY PHÉP KINH DOANH  * Thay đổi nội dung kinh doanh. * Thành lập chi nhánh, công ty con … * Mua bán, chuyển nhượng vốn giữa các thành viên. * Mua bán, sát nhập, giải thể, phá sản. * Tranh chấp quyền lợi trong nội bộ công ty. (hợp đồng 12 tháng) THƯƠNG MẠI  * Vi phạm hợp đồng. * Môi giới thương mại. * Quảng cáo, khuyến mại. * Đấu giá, đấu thầu * Logistics, xuất nhập khẩu. ( hợp đồng 12 tháng)  TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI * Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại. * Qui tắc trọng tài. * Hồ sơ vụ kiện. (hợp đồng 12 tháng) GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG QUỐC TẾ * Vấn đề chọn luật áp dụng. * Các điều khoản không thể thiếu trong hợp đồng thương mại quốc tế. * Luật quốc tế về trọng tài thương mại. (hợp đồng 12 tháng) LUẬT CẠNH TRANH * Cạnh tranh không lành mạnh. * Bán hàng đa cấp. * Vụ kiện cạnh tranh không lành mạnh.  (hợp đồng 12 tháng)   KHÁCH HÀNG TIÊU BIỂU   HANACOBI WACOAL NAMVIET DAU KHI TOYOTA ...   Sử dụng dịch vụ của LHD Law Firm quý Khách có thể đăng ký gói dịch vụ hỏi đáp với 10 giờ tư vấn trực tuyến hàng tháng hoặc sử dụng gói Cung cấp 1 luật sư làm việc trực tiếp tại công ty của quý Khách từ 2 ngày / tuần để trực tiếp giải quyết công việc liên quan đến pháp lý.... Quý khách liên hệ sử dụng dịch vụ Tư vấn pháp luật thường xuyên vui lòng liên hệ với chúng tôi.   
 -  - Nghị định 90/2011/NĐ-CP: Hành lang pháp lý quan trọng cho doanh nghiệp huy động vốn
Để tiếp tục thúc đẩy thị trường trái phiếu doanh nghiệp phát triển, tạo một hành lang pháp lý tốt cho doanh nghiệp trong huy động vốn, ngày 14/10/2011 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 90/2011/NĐ-CP về phát hành trái phiếu doanh nghiệp. Bài viết phân tích, bình luận những quy định mới quan trọng tại Nghị định này. Là một kênh huy động vốn tích cực cho các doanh nghiệp (DN), thị trường trái phiếu DN (TPDN) có một vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của thị trường vốn. Tuy nhiên, thị trường TPDN của Việt Nam hiện nay vẫn còn ở giai đoạn sơ khai, quy mô còn nhỏ, mang tính riêng lẻ, chưa phát huy hết tiềm năng và nhu cầu của DN. Số lượng DN phát hành trái phiếu (TP) chiếm tỷ trọng rất nhỏ. TP chào bán trên thị trường ở mức khiêm tốn và chất lượng chưa cao, tập trung chủ yếu ở TP ngân hàng và TP bất động sản. Quy mô của thị trường TP Việt Nam (gồm cả TP Chính phủ) hiện ở mức 17% GDP (thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực: tỷ lệ này ở Singapore là 74%, Trung Quốc là 53%, Malaysia là 82%, Thái Lan là 58%). Phát hành TPDN chưa được sử dụng như một cách thức huy động vốn dài hạn hữu hiệu của các DN Việt Nam, trong khi đó phát hành TPDN thường có những lợi thế hơn hẳn so với các kênh huy động vốn khác như không phải chịu sức ép chi phối từ cổ đông mới như phát hành cổ phiếu, được hưởng lợi từ chính sách thuế đối với khoản lãi trả TP, trong khi các khoản trả cổ tức không phải tuân thủ các điều kiện vay vốn khắt khe của các ngân hàng thương mại.  Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân như tâm lý của nhà đầu tư không thích đầu tư vào TPDN vì sợ rủi ro cao, lãi suất TP thấp, vấn đề công bố thông tin của DN phát hành, quản lý nhà nước đối với hoạt động phát hành TPDN còn chưa thích hợp… Tuy nhiên, nguyên nhân sâu xa ở đây phải kể đến là nguyên nhân pháp luật, cụ thể là một số quy định tại Nghị định 52/2006/NĐ-CP năm 2006 về phát hành TPDN không còn phù hợp với thực tiễn phát triển thị trường chứng khoán, nhiều quy định mâu thuẫn với các văn bản pháp lý khác và không phù hợp với thông lệ quốc tế.  Nhằm khơi thông dòng vốn trên thị trường này, ngày 14/10/2011, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 90/2011/NĐ-CP (Nghị định 90) thay thế Nghị định số 52/2006/NĐ-CP về phát hành TPDN và nội dung phát hành TPDN ra thị trường vốn quốc tế quy định tại Nghị định số 53/2009/NĐ-CP ngày 04/6/2009 của Chính phủ về phát hành TP quốc tế. Nghị định 90 ra đời có hiệu lực thi hành từ ngày 01/12/2011 nhằm bảo đảm quyền của DN trong việc chủ động tiếp cận nguồn vốn trong xã hội và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư TPDN.  Theo đó việc phát hành TP của các DN thuộc lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, ngoài việc tuân thủ quy định của Nghị định này còn phải thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành liên quan. Trường hợp quy định của pháp luật chuyên ngành khác với quy định tại Nghị định này, DN phát hành TP thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành. Mục đích của việc phát hành TP nhằm thực hiện các chương trình, dự án đầu tư của DN; tăng quy mô vốn hoạt động hoặc cơ cấu lại các khoản nợ của DN. Nghị định không chỉ quy định rõ nguyên tắc phát hành TP, loại hình và hình thức TP, kỳ hạn TP, đồng tiền phát hành và thanh toán TP cũng như việc chuyển nhượng TP… mà còn quy định chi tiết các điều kiện, phương án, lãi suất, phương thức phát hành… đối với việc phát hành TP trong nước và phát hành TP ra thị trường quốc tế.  So với các quy định trước, Nghị định 90 đã mở rộng phạm vi điều chỉnh; nâng cao tiêu chuẩn, điều kiện đối với phát hành TPDN; Cụ thể hóa về thẩm quyền phê duyệt phương án phát hành TP của DNNN; Quy định thêm phương thức phát hành TP... Cụ thể:  Về phạm vi điều chỉnh: Nghị định 90 đã điều chỉnh cả việc phát hành TP riêng lẻ trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam và việc phát hành TP ra thị trường quốc tế của DN để thay thế cả Nghị định số 52/2006/NĐ-CP và Nghị định số 53/2009/NĐ-CP. Bên cạnh đó, điều chỉnh cả việc phát hành TP của tổ chức tín dụng, đồng thời, ưu tiên áp dụng pháp luật chuyên ngành ngân hàng đối với việc phát hành TP của các tổ chức tín dụng như: Việc phát hành TP của các DN thuộc lĩnh vực ngân hàng, ngoài việc tuân thủ quy định của Nghị định 90, phải thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành liên quan; Trường hợp quy định của pháp luật về ngân hàng khác với quy định tại Nghị định 90, thì tổ chức tín dụng phát hành TP phải thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành.  Về tiêu chuẩn, điều kiện đối với phát hành TPDN: Nhằm nâng cao trách nhiệm của DN khi huy động vốn thông qua phát hành TP và bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư mua TP của DN, Nghị định 90 đã quy định các điều kiện phát hành TPDN theo hướng chặt chẽ hơn so với quy định hiện hành.  - Đối với việc phát hành TP để đầu tư cho các chương trình, dự án, DN phát hành phải đảm bảo duy trì tỷ lệ vốn chủ sở hữu tối thiểu là 20% trong tổng mức đầu tư của chương trình, dự án (khoản 4 Điều 4). Quy định này nhằm bảo đảm các DN phải có năng lực tài chính, có khả năng trả nợ mới được phát hành TP để huy động vốn.  - Đối với DN phát hành TP tại thị trường trong nước, kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của năm liền kề trước năm phát hành phải có lãi và phải có báo cáo tài chính được kiểm toán của năm liền kề đó.  - Đối với trường hợp DN phát hành TP trước ngày 01/4 hàng năm chưa có báo cáo tài chính được kiểm toán của năm trước. Trường hợp này, DN phải có: (i) báo cáo tài chính được kiểm toán của năm trước năm liền kề với kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh có lãi; (ii) báo cáo tài chính quý gần nhất với kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh có lãi được kiểm toán (nếu có); (iii) báo cáo tài chính của năm liền kề với kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh có lãi được Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty phê duyệt.  - Đối với việc phát hành TP ra thị trường quốc tế, Nghị định 90 quy định kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh 3 năm liên tiếp liền kề trước năm phát hành của DN phát hành TP ra thị trường quốc tế phải có lãi theo báo cáo tài chính đã được kiểm toán. Mặt khác, Nghị định 90 quy định báo cáo tài chính được kiểm toán của DN (cả trong trường hợp phát hành TP trong nước và phát hành TP ra thị trường quốc tế) phải là báo cáo kiểm toán nêu ý kiến chấp nhận toàn phần (Điều 13 và Điều 23), DN không được phát hành TP trong trường hợp báo cáo tài chính được kiểm toán có ý kiến ngoại trừ của tổ chức kiểm toán.  - Đối với việc phát hành TP của các DN đặc thù như tổ chức tín dụng, Nghị định 90 có quy định bổ sung là phải đáp ứng các yêu cầu về tỷ lệ an toàn vốn và các hạn chế khác về bảo đảm an toàn trong hoạt động theo quy định tại pháp luật chuyên ngành.  - Đối với việc phát hành trái phiểu chuyển đổi thì các đợt phát hành TP chuyển đổi phải cách nhau ít nhất 6 tháng để phù hợp với quy định của Luật Chứng khoán.  Về thẩm quyền phê duyệt phương án phát hành TP của DNNN:  Đối với trường hợp phát hành TP trong nước, phương án phát hành TP của DNNN phải được chủ sở hữu xem xét, chấp thuận trước khi tổ chức phát hành, cụ thể: Đối với DNNN 100% vốn Nhà nước do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, thì phương án phát hành TP phải được Bộ quản lý ngành kinh doanh chính xem xét, chấp thuận; Đối với DN 100% vốn Nhà nước do Bộ, ngành hoặc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định thành lập và làm chủ sở hữu, thì phương án phát hành TP phải được Bộ, ngành hoặc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xem xét, chấp thuận; Đối với DNNN được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn từ hai thành viên trở lên, thì phương án phát hành TP phải được tổ chức được giao chức năng đại diện phần vốn nhà nước tại DN xem xét chấp thuận. Đối với trường hợp phát hành TP ra thị trường quốc tế, phương án phát hành TP của DNNN phải được chủ sở hữu thẩm định và trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, chấp thuận.  Về phương thức phát hành TP: Theo quy định tại Nghị định số 52/2006/NĐ-CP, DN phát hành TP theo một trong 3 phương thức: Đấu thầu phát hành, Bảo lãnh phát hành; và Đại lý phát hành. Đến nay, Nghị định 90 bổ sung thêm phương thức phát hành TP của tổ chức tín dụng. Cụ thể, bên cạnh 3 phương thức là đấu thầu, bảo lãnh và đại lý phát hành, Nghị định 90 quy định tổ chức tín dụng được phát hành TP bằng phương thức bán trực tiếp cho các nhà đầu tư.  Nguyên tắc phát hành TP: DN phát hành TP theo nguyên tắc tự vay, tự trả và tự chịu trách nhiệm về hiệu quả sử dụng vốn; Các hoạt động phát hành TP phải đảm bảo công khai, minh bạch, công bằng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư; Việc phát hành TP để cơ cấu lại nợ phải đảm bảo nguyên tắc không phát hành TP ra thị trường quốc tế để cơ cấu lại nợ bằng đồng Việt Nam; Đối với phát hành TP để đầu tư cho các chương trình, dự án, DN phát hành phải đảm bảo duy trì tỷ lệ vốn chủ sở hữu tối thiểu là 20% trong tổng mức đầu tư của chương trình, dự án; Đối với trường hợp DN phát hành TP ra thị trường quốc tế, ngoài việc tuân thủ quy định của Nghị định này còn phải tuân thủ quy định của pháp luật về vay và trả nợ nước ngoài. Nghị định cũng quy định 2 loại hình TPDN là TP chuyển đổi (do công ty cổ phần và công ty TNHH phát hành) và TP không chuyển đổi (do công ty cổ phần phát hành). TPDN có kỳ hạn từ 1 năm trở lên. DN phát hành quyết định kỳ hạn TP trên cơ sở nhu cầu sử dụng vốn và công bố tại phương án phát hành. Mệnh giá tối thiểu của TP trong nước là 100.000 đồng, các mệnh giá khác là bội số của 100.000 đồng. Đối với việc phát hành TP ra thị trường quốc tế, DN phát hành xây dựng phương án phát hành TP trình cấp có thẩm quyền phê duyệt, chấp thuận theo quy định. Phương án phát hành TP phải có dự kiến đồng tiền phát hành và thanh toán TP, dự kiến nhà bảo lãnh phát hành, tư vấn pháp lý, các đại lý liên quan, kế hoạch bố trí nguồn vốn, phương thức thanh toán gốc, lãi và xử lý các rủi ro tài chính…  Các quy định của Nghị định 90 sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các DN chủ động trong việc huy động vốn thông qua kênh phát hành TP, góp phần hỗ trợ việc hình thành và phát triển thị trường vốn, thị trường TP ở Việt Nam, mặt khác cũng tạo cơ sở pháp lý tăng cường quản lý, giám sát đối với việc phát hành TP của các DN để hoạt động này an toàn, hiệu quả hơn. Cùng với đó để siết lại việc DN vay vốn nước ngoài tràn lan, gây áp lực lên cán cân thanh toán và tổng nợ nước ngoài nhưng sẽ gây khó khăn cho các DN. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số vấn đề tạo sự băn khoăn đối với các DN là nghị định này có thể sẽ gây trở ngại khi có một số quy định can thiệp vào hoạt động của DN.  Theo Nghị định 90, việc phát hành TPDN nhằm mục đích “thực hiện các chương trình, dự án đầu tư của DN; tăng quy mô vốn hoạt động của DN; cơ cấu lại các khoản nợ của DN”. Nhiều quy định trên sẽ khó đáp ứng được mục tiêu. Ví dụ, một trong những quy định mới là không được phát hành TP ra thị trường quốc tế để cơ cấu lại nợ bằng đồng Việt Nam. Quy định này nhằm hạn chế việc chuyển nợ trong nước thành nợ nước ngoài, gây áp lực lên tỷ giá, cán cân ngoại hối. Thế nhưng, trong tình hình khó khăn về nguồn vốn như hiện nay thì việc cấm đoán nói trên lại gây khó khăn cho DN. Thực tế, nhiều DN kinh doanh bất động sản đang phải trả lãi vay tiền đồng với lãi suất là trên 20%/năm nên họ rất mong muốn đi vay nước ngoài hoặc phát hành TP bằng đôla cho nước ngoài với lãi suất chỉ khoảng 11-12%/năm để có tiền trả nợ trước hạn khoản vay tiền đồng.  Một quy định khác có thể gây khó khăn cho mục tiêu cơ cấu lại các khoản nợ của DN là yêu cầu phải đảm bảo duy trì tỷ lệ vốn chủ sở hữu tối thiểu 20% trong tổng mức đầu tư khi phát hành TP để đầu tư cho các chương trình, dự án. Quy định này chỉ nên áp dụng với DNNN, còn áp dụng với các DN khác là can thiệp vào quyền tự chủ của DN. Ngoài ra, trong nhiều trường hợp, việc phát hành TP là nhằm bổ sung vốn lưu động hoặc công ty mẹ huy động vốn nhằm thực hiện dự án của công ty con. Nghị định không đề cập tới các trường hợp này và không rõ là tỷ lệ vốn chủ sở hữu sẽ áp dụng như thế nào.  Bên cạnh đó, theo Nghị định 90 muốn phát hành TP trong nước DN phải đảm bảo điều kiện hoạt động kinh doanh của năm liền kề có lãi (tương tự quy định hiện hành). Còn đối với phát hành TP quốc tế thì DN phải đảm bảo ba năm có lãi liên tục (các nghị định trước không quy định). Các quy định nói trên hoàn toàn trái với điều 88 của Luật DN về quyền phát hành TP và đã tước đi quyền chủ động huy động vốn của DN tư nhân. Trên thực tế một công ty có thể thực hiện nhiều dự án và họ thường lập một công ty con để thực hiện một dự án cụ thể. Quy định về số năm có lãi sẽ không cho các công ty dự án hoặc công ty con được phát hành TP.  Có thể nói, việc quy định DN phát hành TP phải có lãi là cần thiết nhằm ngăn ngừa rủi ro và bảo vệ an toàn cho các trái chủ. Thực tế, trong tình hình thiếu vốn như hiện nay nhiều công ty tìm cách phát hành TPDN bằng cách đưa ra những mức lãi suất hấp dẫn lên tới 21-22%/năm hoặc cao hơn nữa. Tình hình này tạo không ít người lo ngại về rủi ro cho các trái chủ khi công ty phát hành thua lỗ, phá sản, tuy nhiên, mua TP cũng là một hình thức đầu tư mà đã đầu tư thì phải chọn mặt gửi vàng và chấp nhận còn với DN muốn thu hút vốn thành công thông qua phát hành TP thì cũng phải nâng cao uy tín, hiệu quả quản trị và hoạt động sản xuất kinh doanh.  ThS., Dương Thị Kim Tuyến  Nguồn: Tạp chí Tài chính điện tử  
 -  - Từ ngữ và luật pháp
Bài viết này bàn về một số thuật ngữ trong pháp luật kinh doanh dựa vào ý kiến của một số chuyên gia, luật sư tại các hội thảo liên quan do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) thực hiện. Về thuật ngữ “doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài” Luật Đầu tư 2005 giải thích “Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam; doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại”. Theo đó, có thể hiểu chỉ cần có 1% vốn nước ngoài cũng được coi là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Cách hiểu như vậy có lẽ chỉ gây rắc rối với những doanh nghiệp kinh doanh có ngành nghề trong danh mục hạn chế nhà đầu tư nước ngoài (NĐTNN) như trường hợp Mekophar (vốn nước ngoài chiếm gần 5%). Tuy nhiên, nó lại là một cơ hội cho các doanh nghiệp trong nước khác khi Nhà nước đã bảo hộ họ khỏi những đối thủ nước ngoài. Nguyên Bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển cho rằng: “Doanh nghiệp tham gia phân phối dược phẩm lẽ ra không được niêm yết. Nếu cho niêm yết, phải có chính sách riêng về room ngoại”. Như vậy, không chỉ doanh nghiệp niêm yết mà cả doanh nghiệp chưa niêm yết cũng phải cân nhắc khi cho NĐTNN góp vốn, mua cổ phần. Giải pháp đưa ra là Nhà nước có thể mở room cho NĐTNN vào những doanh nghiệp này nhưng mức tỷ lệ chắc chắn phải thấp hơn rất nhiều mức 49% như một số ý kiến đề xuất, vì thực tế với tỷ lệ này NĐTNN hoàn toàn có thể thông qua nhiều cách thức khác nhau để chi phối doanh nghiệp, chi phối thị trường. Một vấn đề khác liên quan đến vốn đầu tư nước ngoài là quy định về đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp. Trong Luật Đầu tư thì hình thức góp vốn, mua cổ phần có thể là đầu tư trực tiếp hay gián tiếp tùy thuộc vào việc nhà đầu tư có tham gia quản lý doanh nghiệp hay không. Trong khi đó, NĐTNN đầu tư gián tiếp thông qua thị trường chứng khoán (Luật Chứng khoán điều chỉnh) hoàn toàn có quyền tham gia quản lý doanh nghiệp, việc có tham gia quản lý hay không phụ thuộc vào tỷ lệ góp vốn. Do đó, phân biệt đầu tư trực tiếp và gián tiếp thông qua quyền tham gia quản lý là không chính xác và luật cũng không giải thích rõ thế nào là tham gia quản lý? Vì sự lẫn lộn này nên có ý kiến yêu cầu áp dụng luật ưu tiên là Luật Chứng khoán thay vì áp dụng Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư cho trường hợp của Mekophar với lý do Mekophar đã lên sàn nên NĐTNN được nắm giữ đến 49% vốn điều lệ. Như vậy nên bỏ quy định hình thức đầu tư trực tiếp và gián tiếp như khuyến nghị của ban soạn thảo. Thuật ngữ “người đại diện theo ủy quyền” Điều 4.14 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định: “Người đại diện theo ủy quyền là cá nhân được thành viên, cổ đông là tổ chức của công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần ủy quyền bằng văn bản thực hiện các quyền của mình tại công ty theo quy định của luật này”. Quy định như vậy có nghĩa “cổ đông là cá nhân trong công ty cổ phần không được phép ủy quyền cho người khác”. Để tham gia quản lý doanh nghiệp có vốn góp thì tổ chức phải thông qua cá nhân cụ thể đại diện cho phần vốn góp đó, việc ủy quyền đó phải thông qua những tiêu chuẩn và điều kiện cụ thể nhằm đảm bảo minh bạch. Tuy nhiên, trong phần quy định về công ty cổ phần thì không quy định cụ thể về người đại diện theo ủy quyền. Vì việc cử người đại diện của công ty cổ phần sẽ rắc rối hơn do phải tham gia vào quá trình bầu, miễn nhiệm thành viên hội đồng quản trị thông qua đại hội đồng cổ đông, do đó, tổ chức có bị hạn chế quyền thay thế, rút người đại diện của mình trong hội đồng quản trị hay không thì Luật Doanh nghiệp 2005 không đề cập. Thuật ngữ “doanh nghiệp nhà nước” Luật Doanh nghiệp 2005 quy định: “Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ”. Xác định như vậy là chưa hợp lý. Như vậy doanh nghiệp mà Nhà nước nắm 49% vốn thì gọi là doanh nghiệp gì? Hơn nữa, dù là doanh nghiệp nhà nước nhưng Nhà nước cũng không thể thông qua các quyết định quan trọng nếu không nắm giữ trên 75% vốn điều lệ, và nếu kết hợp giữa Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư thì chúng ta sẽ có thêm khái niệm mới là “doanh nghiệp nhà nước có vốn đầu tư nước ngoài”!? Mặt khác, quy định này cũng bất công với nhà đầu tư tư nhân và nước ngoài khi góp vốn cùng Nhà nước nhưng lại bị hiểu là “doanh nghiệp của nhà nước”!? Để hiểu đúng về hai khái niệm “doanh nghiệp nhà nước” và “doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài” cần nhận thức trên cơ sở các thành phần kinh tế trong nền kinh tế nước ta. “Doanh nghiệp nhà nước” không phải là một loại hình doanh nghiệp mà là khái niệm liên quan hình thức sở hữu, doanh nghiệp nhà nước thuộc thành phần kinh tế nhà nước, tức Nhà nước nắm 100% vốn. Các hình thức sở hữu hỗn hợp có thể là thành phần kinh tế tư bản tư nhân (vốn hỗn hợp giữa nước ngoài và tư nhân) hoặc là thành phần kinh tế tư bản nhà nước (vốn hỗn hợp giữa nước ngoài và nhà nước). Thực tế, hai khái niệm “doanh nghiệp nhà nước” và “doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài” được quy định rất mờ nhạt trong Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư. Thuật ngữ hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng quyền chọn Luật Thương mại 2005 quy định hợp đồng qua sở giao dịch hàng hóa bao gồm hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng quyền chọn. Nhưng thông lệ quốc tế phân biệt cụ thể hơn: hợp đồng tương lai (Futures Contract), hợp đồng kỳ hạn (Forward Contract) và hợp đồng quyền chọn (Option Contract). Hợp đồng tương lai được thỏa thuận và mua bán thông qua người môi giới, được mua bán trên thị trường tập trung và được tính hàng ngày theo giá thị trường. Hợp đồng kỳ hạn được thỏa thuận trực tiếp giữa hai bên giao dịch, trên thị trường phi tập trung và được thanh toán vào ngày đáo hạn. Thống kê của thế giới chỉ 1-5% số hợp đồng tương lai trên thị trường thực sự được giao dịch (diễn ra việc giao hàng giữa các bên), còn lại hầu như chỉ diễn ra sự thanh toán lãi lỗ giữa các bên. Ngược lại, hầu hết mọi hợp đồng kỳ hạn đều diễn ra việc giao hàng thực sự giữa các bên. Theo giải thích của Luật Thương mại 2005 thì hợp đồng kỳ hạn là thỏa thuận giữa bên mua và bên bán nhưng lại được thực hiện qua sở giao dịch hàng hóa, khái niệm này là sự kết hợp lẫn lộn giữa hai hợp đồng phổ biến theo thông lệ quốc tế. Luật Thương mại 2005 không có quy định về hợp đồng tương lai, chỉ có hợp đồng quyền chọn nhưng quy định về hợp đồng quyền chọn còn rất thiếu và chưa nêu rõ bản chất của loại hợp đồng này. Mục đích của hợp đồng quyền chọn là ngăn ngừa rủi ro và kinh doanh chênh lệch giá, do vậy, nó hoặc là một phần của hợp đồng tương lai hoặc là một công cụ tài chính phái sinh, cần bổ sung quy định chặt chẽ và đúng bản chất của loại hợp đồng này. Thực tế, quy định Sở Giao dịch hàng hóa Việt Nam (VNX) về các loại hợp đồng (quy chế giao dịch hàng hóa theo phương thức báo giá, ban hành kèm theo Quyết định số 53/2011/QĐ-VNX ngày 28-10-2011) đã bổ sung thêm định nghĩa hợp đồng tương lai, một loại hợp đồng không có trong Luật Thương mại 2005! Thị trường giao dịch hàng hóa thông qua các sở giao dịch sẽ ngày càng phát triển ở nước ta, những quy định chặt chẽ sẽ đảm bảo hạn chế những rắc rối phát sinh trong quá trình vận hành thị trường này. Vì vậy, người viết thống nhất với ý kiến của ban soạn thảo đề nghị sửa khái niệm hợp đồng kỳ hạn thành hợp đồng tương lai để phù hợp với thông lệ quốc tế và bổ sung các quy định về hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng quyền chọn. Theo: thesaigontimes.vn
 -  - Hiểu thế nào về
Ngày nay, việc người nước ngoài giữ chức vụ quản lý trong các công ty cả “thuần Việt” lẫn có vốn đầu tư tại Việt Nam đã trở nên phổ biến. Ngoài ra, người nước ngoài cũng có thể nắm giữ chức danh người đại diện theo pháp luật của các doanh nghiệp (DN) tại Việt Nam. Điều này hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành. Lòng vòng một thuật ngữ Người đại diện theo pháp luật không phải là một chức vụ độc lập mà luôn gắn liền với một vị trí lãnh đạo trong công ty, ví dụ: người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH thường là Giám đốc hoặc Chủ tịch HĐTV, của công ty cổ phần thường là Tổng giám đốc hay Chủ tịch HĐQT. Công ty khi nhân danh mình tham gia vào mối quan hệ với thế giới bên ngoài đều phải thông qua người đại diện theo pháp luật hoặc người được người đại diện theo pháp luật uỷ quyền. Người đại diện theo pháp luật còn có một số nghĩa vụ quan trọng được Luật DN 2005 quy định như quản lý việc sử dụng con dấu, thông báo tiến độ góp vốn đến cơ quan đăng ký kinh doanh, kiểm soát những giao dịch nội bộ trong công ty… Với vai trò quan trọng của người đại diện theo pháp luật, Luật DN quy định người đại diện theo pháp luật phải “thường trú” tại Việt Nam. Đòi hỏi này, nếu hiểu theo đúng thuật ngữ “thường trú” theo quy định của Pháp lệnh xuất cảnh, nhập cảnh và cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam thì rất ít người nước ngoài có thể trở thành người đại diện theo pháp luật của DN Việt Nam khi mà chỉ có những người nước ngoài có công lao đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ cho Tổ quốc Việt Nam hay có vợ, chồng, con, cha, mẹ của công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam mới có thể được cấp Thẻ thường trú. Có lẽ chính vì điều này mà Nghị định 139/2007/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật DN đã “mềm dẻo” hơn khi chỉ yêu cầu người nước ngoài “tạm trú” tại Việt Nam là đủ. Nay nghị định này đã được thay thế bằng Nghị định 102/2010/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 15/11/2010 của Chính phủ. Nghị định 102/2010/NĐ-CP lại sử dụng thuật ngữ mới đó là người nước ngoài phải “cư trú” tại Việt Nam. Trong khi đang mập mờ chưa rõ “cư trú” ở đây phải hiểu là “thường trú” hay “tạm trú” tại Việt Nam thì cơ quan đăng ký kinh doanh (cụ thể là Phòng đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư Tp. Hồ Chí Minh) vẫn duy trì việc yêu cầu Thẻ tạm trú của người nước ngoài khi DN đăng ký thay đổi người đại diện theo pháp luật mới của mình là một người nước ngoài. Cụ thể theo yêu cầu của cơ quan này, một trong những loại giấy tờ trong bộ hồ sơ đăng ký thay đổi người đại diện theo pháp luật mới của DN mà người đó là người nước ngoài là Thẻ tạm trú tại Việt Nam của người mới. Yêu cầu này có lẽ xuất phát từ quy định về giấy tờ chứng thực cá nhân trong hồ sơ đăng ký DN tại Điều 24 Nghị định 43/2010/NĐ-CP về đăng ký DN, theo đó đối với người nước ngoài thường trú tại Việt Nam thì giấy tờ chứng thực cá nhân sẽ là Giấy đăng ký tạm trú do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp và Hộ chiếu còn hiệu lực.  Cứng nhắc và máy móc Theo quan điểm của người viết, việc các cơ quan đăng ký kinh doanh yêu cầu DN phải nộp Thẻ tạm trú của người đại diện theo pháp luật là người nước ngoài khi thực hiện các thủ tục nói trên là không hợp lý. Lý do thứ nhất, nếu căn cứ vào quy định tại Điều 24 Nghị định 43/2010/NĐ-CP thì đó là việc hiểu và áp dụng pháp luật một cách cứng nhắc và máy móc. Điều luật này chỉ nhằm liệt kê các loại giấy tờ chứng thực cá nhân của người nước ngoài cho từng loại đối tượng người nước ngoài thường trú hay không thường trú tại Việt Nam chứ không mang ý nghĩa bắt buộc người nước ngoài phải cư trú tại Việt Nam tại thời điểm trở thành người đại diện theo pháp luật của DN (thời điểm DN nộp hồ sơ đăng ký) mà chỉ cần trong quá trình đảm nhiệm chức danh người đại diện theo pháp luật, người nước ngoài đó đáp ứng được yêu cầu cư trú tại Việt Nam là được. Lý do thứ hai, việc đòi hỏi như vậy khiến DN phải “đi đường vòng” tức là phải xin cấp Thẻ tạm trú cho người nước ngoài trước. Muốn vậy DN phải “đưa” người nước ngoài vào DN trước (mà chưa giữ chức danh người đại diện theo pháp luật) bằng cách đăng ký người nước ngoài là thành viên công ty, thành viên hội đồng quản trị hay xin cấp Giấy phép lao động cho người nước ngoài nhằm mục đích xin cấp Thẻ tạm trú đã rồi mới tiến hành đăng ký để người nước ngoài trở thành người đại diện theo pháp luật. Điều này đương nhiên khiến DN mất thêm nhiều thời gian, công sức và cả tiền bạc.  Lý do thứ ba, nếu việc yêu cầu Thẻ tạm trú là nhằm đảm bảo yêu cầu cư trú tại Việt Nam của người đại diện theo pháp luật thì hãy để quá trình “hậu kiểm” xử lý vì với hành vi không có người đại diện theo pháp luật cư trú tại Việt Nam DN đã có thể bị phạt đến 7 triệu đồng cho hành vi này theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính. Lý do thứ tư, nếu yêu cầu đó là nhằm đảm bảo sự hiện diện trên thực tế tại Việt Nam của người nước ngoài tại thời điểm DN nộp hồ sơ thì chỉ cần đòi hỏi hộ chiếu có xác nhận tạm trú (cái mà người nước ngoài có thể dễ dàng xin được khi nhập cảnh hợp pháp vào Việt Nam) của cơ quan Hải quan cửa khẩu là đủ.   Như vậy việc yêu cầu DN phải nộp Thẻ tạm trú của người đại diện theo pháp luật của người nước ngoài như đề cập ở trên cần phải được chấm dứt ngay lập tức. Điều đáng nói là ngay cả trong nội bộ cơ quan quản lý đăng ký kinh doanh cũng không có sự thống nhất cho cùng một loại thủ tục hành chính. Cụ thể, nếu DN thực hiện thủ tục thay đổi người đại diện theo pháp luật là người nước ngoài tại Phòng đăng ký kinh doanh của Sở Kế hoạch và Đầu tư Tp. Hồ Chí Minh thì như đã nói ở trên, Thẻ tạm trú của người nước ngoài là cần thiết, nhưng nếu những thủ tục đó mà thuộc thẩm quyền của Phòng Đăng ký Đầu tư (phụ trách cấp phép các dự án đầu tư có vốn trong nước lẫn nước ngoài) của chính Sở này thì lại không bắt buộc. Bản thân người viết cũng đã trực tiếp hỗ trợ nhiều DN có vốn đầu tư nước ngoài thưc hiện việc thay đổi người đại diện theo pháp luật mới là người nước ngoài tại Sở kế hoạch đầu tư, Ban quản lý khu công nghiệp ở các tỉnh thành khác như Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu… nhưng những cơ quan này không hề có đòi hỏi tương tự như Phòng Đăng ký kinh doanh Sở Kế hoạch và Đầu tư Tp. Hồ Chí Minh mà chỉ yêu cầu bản sao hợp lệ hộ chiếu của người đại diện theo pháp luật mới của DN là đủ. Có thể nói “sáng tạo” này của Sở Kế hoạch và Đầu tư Tp. Hồ Chí Minh xuất phát từ sự không rõ ràng, cụ thể, thống nhất trong các quy định có liên quan của pháp luật, dẫn đến cơ quan quản lý mỗi nơi hiểu một kiểu, chỉ có DN là “loay hoay” không biết đường nào mà lần. Đây cũng là biểu hiện của đặc trưng “chín không” của hệ thống pháp luật về DN như đánh giá mới đây của Tổ công tác thi hành Luật DN và Luật Đầu tư bao gồm: không đầy đủ, không rõ ràng, không cụ thể, không tương thích, không minh bạch và không tiên liệu trước được, không hợp lý, không hiệu quả và không hiệu lực. Muốn cải cách thủ tục hành chính, những “hạt sạn” như thế này trong hệ thống pháp luật phải sớm được loại bỏ. Trương Hữu Ngữ (Legal Consultant, LOGOS Law LLC)   Nguồn: phapluatvn.vn
 -  - Tư vấn pháp luật thường xuyên
Tư vấn pháp luật thương xuyên: Tư vấn và trả lời mọi câu hỏi của doanh nghiệp về các vấn đề pháp lý liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; Nhằm đem đến cho các doanh nghiệp dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp, hoàn hảo và hiệu quả nhất. HDP Hong Duc Partners cung cấp dịch vụ tư vấn thường xuyên cho các doanh nghiệp trong các lĩnh vực pháp luật kinh doanh, thủ tục hành chính, thuế, tài chính, quản trị doanh nghiệp, lao động, sở hữu trí tuệ, pháp luật đầu tư thông qua việc ký hợp đồng tư vấn thường xuyên. Khi ký hợp đồng tư vấn thường xuyên với HDP, doanh nghiệp sẽ được HDP đảm bảo hỗ trợ, thẩm định về mặt pháp lý khi tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh. Tư vấn và trả lời mọi câu hỏi của doanh nghiệp về các vấn đề pháp lý liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (đặc biệt ưu tiên tư vấn qua hình thức trả lời bằng văn bản qua email); Tư vấn về quản lý doanh nghiệp, xây dựng phát triển và bảo vệ thương hiệu nói riêng, quyền sở hữu trí tuệ nói chung; Thường xuyên cung cấp các thông tin mới nhất có liên quan hoặc có khả năng tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Cung cấp danh mục văn bản luật mới có liên quan đến lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp định kỳ (tuần, tháng) qua email, fax, thư tín; Hỗ trợ khách hàng tối đa để đảm bảo tính chuẩn mực pháp lý và có lợi nhất, an toàn nhất trong tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh (Kiểm tra tính hợp pháp của các văn bản do doanh nghiệp phát hành ra bên ngoài cũng như các tài liệu mà doanh nghiệp nhận được); Dành thời gian 01 ngày làm việc trực tiếp tại doanh nghiệp đối với doanh nghiệp không ở tại địa bàn Tp.HCM, Hà Nội chi phí đi lại, ăn ở phía doanh nghiệp phải trả cho nhân viên tư vấn. Dành ưu đãi 10 đến 20% giá trị Hợp đồng khi hai bên ký các hợp đồng tư vấn cho các công việc cần triển khai ngoài phạm vi của tư vấn thường xuyên.  
 -  - TƯ VẤN PHÁP LUẬT TRỰC TUYẾN
Hiện nay các thuật ngữ như: luật sư tư vấn trực tuyến; công ty luật trực tuyến; văn phòng luật sư trực tuyến; luật sư online, công ty luật online, văn phòng luật sư online đã xuất hiện tự nhiên trong đời sống và người ta dần quen và chấp nhận nó như một sự mở rộng về ngôn ngữ, cũng như như mở rộng về phương thức hoạt động của các công ty luật và các văn phòng luật sư. Chúng ta đang sống trong một thế giới ngày một phẳng hơn với sự phát triển vượt bậc của công nghệ truyền thông và mạng mạng internet. Sự số hoá và những ứng dụng công nghệ thông tin không chỉ diễn ra ở các ngành công nghệ cao mà ngay cả những dịch vụ mang tính truyền thống như dịch vụ tư vấn pháp lý thì công nghệ thông tin cũng được ứng dụng mạnh mẽ và mang lại những hiệu quả hơn cả sự mong đợi. Tiêu biểu cho kết quả của việc ứng dụng đó chính là tư vấn luật trực tuyến của các công ty luật và văn phòng luật sư. Tư vấn pháp luật trực tuyến là việc chủ thể cung cấp dịch vụ tư vấn luật thực hiện hoạt động tư vấn của mình với khách hàng trực tiếp thông qua các ứng dụng dựa trên nền tảng của công nghệ mạng như Chatting hoặc Voice IP với đường truyền Internet băng thông rộng…. Mặc dù mới ra đời ở nước ta nhưng nó ngày càng trở thành một kênh tư vấn pháp lý quan trọng bởi tính ưu việt và những thuận lợi mà nó đem lại cho người sử dụng đặc biệt với doanh nghiệp và nhà đầu tư. Bất kỳ doanh nghịêp hay cá nhân kinh doanh nào nào đều mong muốn nhanh chóng nắm bắt được các chính sách, quy định của pháp luật liên quan đến đến hoạt động của doanh nghiệp mình. Để giải quyết vướng mắc này, các doanh nghiệp tìm đến các công ty luật, những văn phòng luật sư để được cung cấp những thông tin cho cho những ý kiến tham vấn. Nhưng một mâu thuẫn là không phải lúc nào họ cũng có thời gian để tiếp xúc trực tiếp các công ty luật, với những luật sư. Hơn nữa, đôi khi có những vướng mắc về kiến thức pháp lý rất nhỏ, các doanh nghiệp, nhà đầu tư cũng phải thu xếp một cuộc tiếp xúc với công ty luật. Chính điều này làm quỹ thời gian vốn hạn hẹp của họ lại hạn hẹp hơn. Bởi lẽ đó mà tư vấn pháp lý trực tuyến đã ra đời như một điều tự nhiên của nhu cầu đời sống xã hội. Sự ra đời của hình thức mang tính đột phá này đã mở rộng hơn những thuật ngữ trong nghề luật. Hiện nay các thuật ngữ như: luật sư tư vấn trực tuyến; công ty luật trực tuyến; văn phòng luật sư trực tuyến; luật sư online, công ty luật online, văn phòng luật sư online. Những thuật ngữ ngày đã xuất hiện tự nhiên trong đời sống và người ta dần quen và chấp nhận nó như một sự mở rộng về ngôn ngữ, cũng như như mở rộng về phương thức hoạt động của các công ty luật và các văn phòng luật sư         Việc tư vấn luật online đã được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới và hình thức mới mẻ này đã xuất hiện ở Việt Nam trong mấy năm trở lại đây và đã bước đầu phát huy được những tiện ích và hiểu quả thiết thực. Là một công ty tư vấn luôn áp dụng những cái mới vào quá trình hoạt động nghề nghiệp công ty Vietlink chúng tôi tự hào là là một trong những công ty tư vấn tiên phong trong việc cung cấp các giải pháp pháp luật trực tuyến. Với đội ngũ luật sư tư vấn pháp lý trực tuyến chuyên nghiệp chúng tôi đảm nhiệm việc cấp các dịch vụ khá toàn diện trên các mảng tư vấn: tư vấn doanh nghiệp trực tuyến, tư vấn thương mại trực tuyến, tư vấn đầu tư trực tuyến, tư vấn sở hữu trí tuệ trực tuyến và một số lĩnh vực tư vấn khác mà các cá nhân và doanh nghiệp quan tâm. Nếu bạn là người không có nhiều thời gian, bạn có một chiếc máy tính kết nối mạng Internet và bạn đang có nhu cầu cần tham vấn ý kiến của luật sư thì chỉ cần một cái click là bạn đã trực tiếp kết nối trực tiếp với đội ngũ luật sư và chuyên gia tư vấn pháp luật trực tuyến của công ty Vietlink chúng tôi. Chúng tôi luôn cố gắng hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hơn nữa của hệ thống tư vấn pháp lý trực tuyến với mong muốn kết nối và đến gần hơn nữa với khách hàng trong sự hiệu quả và tiện ích mà chúng tôi có thể mạng lại. Chúng tôi luôn hiểu rằng “thế giới là kết nối”, mọi sự kết nối đều mang lại những chân giá trị nhất định. Chúng tôi luôn sẵn sàng kết nối với các bạn qua hệ thống tư vấn trực tuyến vào tất cả các ngày trong tuần với một sự phục vụ chuyên nghiệp. Để được luật sư trực tuyến của chúng tôi tư vấn khách hàng ngoài địa chỉ website www.luathongduc.com, quý khách có thể trực tiếp vào địa chỉ www.yllaw.com.vn . Hệ thống tư vấn pháp luật trực tuyến của chúng tôi luôn sẵn sàng đồng hành cùng bạn.  
TƯ VẤN PHÁP LUẬT - tu van phap luat - DỊCH VỤ TƯ VẤN PHÁP LÝ THƯỜNG XUYÊN
Luật Hồng Đức cung cấp Dịch vụ tư vấn pháp lý thường xuyên cho các doanh nghiệp trong các lĩnh vực pháp luật kinh doanh, thủ tục hành chính, thuế, tài chính, quản trị doanh nghiệp, lao động, sở hữu trí tuệ, pháp luật đầu tư  thông qua việc ký hợp đồng tư vấn pháp lý thường xuyên.
TƯ VẤN PHÁP LUẬT - tu van phap luat - TƯ VẤN PHÁP LUẬT THƯỜNG XUYÊN CHO DOANH NGHIỆP
Nhằm đem đến cho các doanh nghiệp dịch vụ tư vấn pháp luật thường xuyên chuyên nghiệp, hoàn hảo và hiệu quả nhất. Luật Hồng Đức cung cấp Dịch vụ tư vấn pháp luật thường xuyên cho các doanh nghiệp trong các lĩnh vực pháp luật kinh doanh, thủ tục hành chính, thuế, tài chính, quản trị doanh nghiệp, lao động, sở hữu trí tuệ, pháp luật đầu tư  thông qua việc ký hợp đồng tư vấn pháp luật  thường xuyên.
CÔNG BỐ MỸ PHẨM - cong bo my pham - TƯ VẤN PHÁP LUẬT THƯỜNG XUYÊN TẠI HÀ NỘI
TƯ VẤN PHÁP LUẬT THƯỜNG XUYÊN Tư vấn pháp luật thường xuyên là một phương thức tiết kiệm hiệu quả nhất của Các Công ty Luật trên toàn thế giới. Vậy sự khác biệt giữa Tư vấn thường xuyên và luât sư Công ty ở điểm nào ? Thứ nhất: Khi doanh nghiệp bạn có một vấn đề đặt ra bạn sẽ nhận được Luật sư công ty Ý kiến của một người  Tư vấn pháp luật thường xuyên  Ý kiến của một tập thể vidu: tại LHD là 25 người.     Thứ hai: Chi phí: Luật sư công ty Chi phí lớn = hiệu quả nhỏ  Tư vấn pháp luật thường xuyên  Chi phí nhỏ = hiệu quả lớn     Vậy sử dụng dịch vụ Tư vấn thường xuyên ở đâu là phù hợp và hiệu quả ? Thông thường các Công ty cần dịch vụ này phải tìm đến Các công ty luật chuyên tư vấn về luật doanh nghiệp, đầu tư, sở hữu trí tuệ, thuế và giải quyết tranh chấp hợp đồng. LHD chúng tôi đáp ứng điều kiện nêu trên không, và chúng tôi làm gì cho Bạn: Tư vấn luật thường xuyên và trả lời mọi câu hỏi của doanh nghiệp về các vấn đề pháp lý liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (đặc biệt ưu tiên tư vấn qua hình thức trả lời bằng văn bản qua email); Tư vấn luật thường xuyên về quản lý doanh nghiệp, xây dựng phát triển và bảo vệ thương hiệu nói riêng, quyền sở hữu trí tuệ nói chung; Thường xuyên cung cấp các thông tin mới nhất có liên quan hoặc có khả năng tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.  Tư vấn luật thường xuyên và đồng thời qua đó cung cấp cho doanh nghiệp danh mục văn bản có tính pháp lý liên quan tới doanh nghiệp của bạn thường xuyên theo định kỳ theo tuần dưới dạng hình thức gửi mail + sms + Phone,... " Quý khách hàng vui lòng để lại yêu cầu nhận văn bản chúng tôi dưới dạng nào? Công ty luật LHD chúng tôi đã nhận làm tư vấn pháp luật thường xuyên cho quý doanh nghiệp sẽ hỗ trợ tốt đa - cam kết tính chuẩn mực về pháp lý về các hợp đồng or các giấy tờ liên quan đến pháp lý 1 cách tốt nhất để quý doanh nghiệp hoạt động sản xuất và kinh doanh một cách tốt nhất! Dành thời gian một ngày làm việc trực tiếp tại doanh nghiệp đối với doanh nghiệp không ở tại địa bàn Tp.HCM, Hà Nội chi phí đi lại, ăn ở phía doanh nghiệp phải trả cho nhân viên tư vấn. Dành ưu đãi 10 đến 20% giá trị Hợp đồng khi hai bên ký các hợp đồng tư vấn cho các công việc cần triển khai ngoài phạm vi của tư vấn pháp luật thường xuyên.